Thực trạng trợ cấp của chính phủ và ngoại tác tích cực trong chương trình tín dụng ưu đãi cho SV nghèo học đại học ở Việt Nam

Từ những năm đầu thực hiện chương trình cho sinh viên nghèo vay vốn ưu đãi, năm 1999, nguồn vốn ban đầu của chương trình là 160 tỷ đồng. Ngân hàng CSXH cho biết, sau hơn hai năm thực hiện Quyết định 157/2007/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chương trình tín dụng ưu đãi đối với sinh viên, tổng số tiền cho vay đã tăng 47 lần, hơn 1,3 triệu học sinh, sinh viên được vay vốn học tập, tăng gấp 14 lần. Tính bình quân, cứ 100 học sinh, sinh viên đang theo học bậc đại học, cao đẳng và trung cấp có 27 người được vay vốn. Tính đến hết tháng 7-2009, tổng dư nợ đạt gần 293,2 tỷ đồng với 27.920 hộ vay sinh viên vay. Từ những điều đó cho thấy chính phủ ngày càng quan tâm và tăng cường trợ cấp nhiều hơn cho chương trình này. Hiện nay có 99.563 sinh viên, học sinh tại hơn 250 trường đại học, cao đẳng trong toàn quốc đang dư nợ vốn vay học tập từ NHCSXH. Tổng nguồn vốn sau hơn 2 năm thực hiện chương trình cho SV nghèo vay vốn đạt hơn 419,8 tỷ đồng. Ngoài những kết quả đạt được thời gian qua, nhiệm vụ những tháng còn lại năm 2009 của VBSP là tập trung mọi nguồn lực giải ngân khoảng 5.000 tỷ đồng cho chương trình tín dụng ưu đãi sinh viên. Phấn đấu đến hết năm hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đã được Chính phủ giao. Điều đó cho thấy ngoại tác tích cực do chương trình mang lại rất nhiều nên ngày càng có nhiều SV tham gia vào chương trình này: rất nhiều bạn SV yên tâm học hành nhờ nguồn vốn vay, trường ĐH yên tâm về vấn đề thu học phí của SV, gia đình SV đỡ phải chạy vạy chật vật lo cho con em mình học phí…

Hiện nay, nhu cầu vay vốn của sinh viên ngày càng tăng cao do các yếu tố khách quan nên Nhà nước cũng có những chính sách thông thoáng hơn, tạo nhiều điều kiện cho sinh viên vay nhiều hơn. Nguồn vốn vay cũng được bổ sung thêm 1000 tỷ đồng nhằm đáp ứng được cho tất cả sinh viên nghèo đi vay với mức vay là 860.000/tháng/sinh viên. Chương trình đang được xã hội ủng hộ cao, đây là một việc làm thiết thực tích cực giúp đỡ cho các sinh viên nghèo có khả năng tiếp cận GDĐH, đảm bảo mang lại tính nhân bản cao, đảm bảo chức năng phân phối lại thu nhập của Chính phủ.

Như đã nói ở trên, chương trình này là một chính sách lớn, vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa chính trị – xã hội, nó tác động tích cực đến toàn xã hội. Chương trình này đã thực sự mang lại một nguồn vốn thiết thực cho các hoàn cảnh khó khăn, làm giảm gánh nặng chi phí học tập cho SV và gia đình, giúp các đối tượng là SV nghèo an tâm hơn trong việc học tập, giảm thiểu thời gian phải đi làm thêm để đầu tư hơn cho việc học tập, mang lại kết quả tốt. Nhờ vậy, SV ra trường sẽ tìm được việc làm tốt, việc trả nợ sẽ trở nên dễ dàng hơn, thêm vào đó còn tạo ra giá trị thặng dư cho xã hội. Đồng thời đã giảm thiểu tình trạng bỏ học giữa chừng hay không tham gia học được vì gia đình nghèo mặc dù đã đậu ĐH. Tuy nhiên, chính việc xét chưa đúng đối tượng đã làm giảm tính hiệu quả của chương trình.

Tuy nhiên, với mức vốn vay như hiện nay thì vẫn chưa thật sự đủ trang trải cho tiền học phí, chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn, ở, đi lại…để đảm bảo cuộc sống. Chính vì vậy nó vẫn không hấp dẫn đối với những người mà ngoài việc phải lo tiền học tập còn phải bươn chải để đảm bảo cuộc sống. Chính vì vậy, việc bỏ học vẫn có thể diễn ra, hoặc tình trạng làm thêm nhiều của SV, dẫn đến hiệu quả học tập không cao vẫn tiếp diễn.

  Thực tế cho thấy khả năng thu hồi vốn không cao. Tuy nhiên, vì không có gì làm đảm bảo cho khoản vay nên cũng không tránh trường hợp “thất thoát” do không thu hồi được vốn. Đồng thời, sức ép về thời hạn trả nợ và lãi cũng là con dao hai lưỡi vì có thể dẫn đến SV không thể trả được nợ, làm tỉ lệ thu hồi vốn cũng thấp. Mạng lưới hoạt động của NHCSXH như đã nói trên còn thấp, cho nên dẫn đến chi phí hoạt động, đây cũng chính là phần “tổn thất” của Chính phủ. Làm tính hiệu quả của chương trình cũng giảm xuống.

Bởi chưa có một cơ chế, qui định về kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn cho nên không thể đánh giá chính xác nguồn vốn ưu đãi đó có dùng đúng mục đích hay không, chính vì vậy đã làm giảm tính hiệu quả của chương trình xuống. Đây cũng là cơ hội để những thành phần không tốt lợi dụng làm lợi cho bản thân. Có thể thấy rõ điều này qua kết quả kiểm tra hiệu quả vốn vay tại 418.781 hộ ở Triệu Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa đã phát hiện 3.043 hộ gia đình (chiếm 0,7% số hộ được kiểm tra) có vấn đề. Đặc biệt có 77 hộ gia đình và 59 HSSV sử dụng vốn vay sai mục đích. Đối với các trường hợp trên, VBSP đã kiến nghị dừng cho vay và thu hồi trước hạn… Những điều bất cập cần được nhanh chóng chấn chỉnh để việc thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đạt hiệu quả cao hơn.

Bên cạnh đó vẫn có nhiều bất cập xảy ra, nhiều gia đình không dám đi vay vì nhiều học sinh, sinh viên và ngay cả cán bộ ngân hàng cũng băn khoăn về một số quy định trả nợ. Theo quy định, đối tượng được vay vốn phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên ngay sau khi có việc làm, có thu nhập, nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày học sinh, sinh viên kết thúc khóa học. Hiện nay, nhiều sinh viên ra trường rất khó tìm việc làm sau 1 năm (thống kê năm 2006, chỉ có 37% cử nhân hoặc kỹ sư sau khi tốt nghiệp có việc làm ngay sau khi ra trường), trong khi lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất cho cho vay. Nếu quá trình tìm việc làm kéo dài, việc trả nợ sẽ khó khăn thêm. Theo tính toán của phía ngân hàng thì mỗi đợt cho vay phải thu nợ trong 5 năm mới xong. Đây cũng là sức ép đang đặt ra đối với học sinh, sinh viên sau khi ra trường. Chương trình này vẫn chưa thật sự thu hút sinh viên lắm, điều đó cho thấy công tác phổ biến tuyên truyền chương trình chưa rộng rãi, chưa quy mô, bất đối xứng thông tin còn nhiều.

Nếu chương trình này, có sự phối hợp chặt chẽ Chính quyền – Nhà trường – Gia đình thì chương trình sẽ phát huy được tối đa hiệu quả và thật sự mang lại nhiều lợi ích cho sinh viên  nghèo, phúc lợi xã hội sẽ được nâng cao, đảm bảo tính công bằng.