Thực trạng và chính sách quản lý giá ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay

 

Cơ chế và chính sách quản lý giá trong cơ chế thị trường đã được thực hiện, được chỉnh lý ngày càng hoàn thiện hơn kể từ năm 1991 tới nay thông qua các mặt hoạt động sau đây.

1. Bình ổn giá cả thị trường

Ổn định giá là tiền đề của sự phát triển kinh tế. Nếu không tạo được sự ổn định giá một cách vững chắc trên mặt bằng xã hội thì tất cả các giải pháp cải cách đều mất hết ý nghĩa kinh tế xã hội và chúng không còn cơ sở xã hội nữa. Để chủ động thực hiện tốt công tác bình ổn giá, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 151-TTg ngày 12/4/1993 về việc hình thành, sử dụng và quản lý quỹ bình ổn giá. Việc hình thành và sử dụng quỹ bình ổn giá nhằm mực đích giữ giá các mặt hàng chủ yếu cho sản xuất và đời sống được định, góp phần kiềm chế lạm phát. Quỹ bình ổn giá được hình thành bởi các khoản thu linh hoạt và chỉ áp dụng đối với những mặt hàng có chênh lệch giá phát sinh khi doanh nghiệp có lợi thế kinh doanh, do thị trường hoặc do điều kiện sản xuất tạo ra chênh lệch giá, và có lợi nhuận siêu ngạch. Các khoản phụ thu này được quy định và thực hiện linh hoạt phù hợp với sự biến động của giá thị trường trong nước và thế giới. Quỹ bình ổn giá thực sự là một giải pháp quan trọng, nó sử dụng quan hệ thị trường để giải quyết chính vấn đề của thị trường một cách hợp quy luật. Quỹ bình ổn giá giúp nhà nước có một lực lượng vật chất để chủ động chi phối cung cầu, điều hoà thị trường, ổn định giá cả hàng hoá, góp phần ổn định thu chi ngân sách.

2. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý giá

Theo quyết định 137/HĐBT về quản lý giá, các cơ quan quản lý giá từ trung ương đến địa phương đã được kiện toàn. Đồng thời đã có các thông tư, chỉ thị, hướng dẫn thực hiện việc phân công, phân cấp quản lý giá, thực hiện đăng ký giá, hiệp thương giá, niêm yết giá…

3. Tăng cường công tác thông tin giá cả, thị trường

   Ban vật giá Chính phủ đã chủ động tích cực thiết lập mạng lưới thông tin giá cả, thị trường thống nhất trong cả nước. Các quy định về báo cáo, phân tích, dự báo giá cả, thị trường đã được thực hiện nghiêm túc và đã được phát hành đều đặn dưới dạng các báo cáo, các ấn phẩm, các thông tin tư liệu. Những thông tin này đã thực sư phát huy tác dụng trên các mặt:

* Giúp các cơ quan lãnh đạo nghiên cứu các giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế.

* Giúp cho công tác điều hoà cung cầu, bình ổn thị trường, giá cả trong phạm vi cả nước.

* Giúp cho các doanh nghiệp có căn cứ xem xét, tính toán hiệu quả kinh doanh.

* Giúp cho các nhà nghiên cứu khoa học có tư liệu để nghiên cứu, hoàn thiện việc đổi mới cơ chế, chính sách.

4. Tăng cường công tác thanh tra giám sát

Trong quá trình thực hiện cơ chế, chính sách giá cần tăng cường công tác thanh tra giá nhằm kịp thời phát hiện và đề xuất biện pháp giải quyết vướng mắc, sai trái trong cơ chế quản lý giá cho phù hợp. Công tác thanh tra giá được thực hiện thường xuyên, liên tục.

Bên cạnh đó, trong những năm  qua, chính sách và cơ chế quản lý của nhà nước về giá cả xuất nhập khẩu đã được xem xét, hoàn chỉnh và đổi mới thường xuyên. Trong điều kiện hầu hết các loại vật tư cho sản xuất công nghiệp phải nhập khẩu và do nhà nước định giá, việc xích gần giá trong nước và giá thế giới được thực hiện thực chất là nhằm xoá bao cấp đầu vào cho nền kinh tế. Cho đến nay, hầu hết các loại hàng hóa nhập khẩu đã được lưu thông theo giá sát với giá thế giới trên nguyên tắc: giá bán trong nước = giá nhập CIF * tỷ giá hối đoái + chi phí tiêu thụ nội địa + thuế nhập khẩu. Việc định giá sát gần với mức giá thế giới đã thúc đẩy tiết kiệm đồng thời tiêu chuẩn và hiệu quả của giá cả cũng được bộc lộ đầy đủ hơn.