Thực trạng về nguồn tài trợ VLĐ tại các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mỗi DN có thể lựa chọn một chính sách tài trợ VLĐ hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế của mình. Thông thường, các DN sử dụng kết hợp nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn theo một tỷ lệ nhất định nhằm đảm bảo khi tài trợ cho VLĐ, không bị rơi vào tình trạng mất cân bằng tài chính.

Để đánh giá chính sách tài trợ VLĐ của các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc đang thực hiện có đảm bảo được cân bằng tài chính và xu hướng thay đổi chính sách tài trợ VLĐ theo chiều hướng tốt hay xấu, tác giả sử dụng chỉ tiêu nguồn VLĐ thường xuyên – NWC (Net working capital ) để nghiên cứu trong giai đoạn 2013 – 2017. Qua chính sách tài trợ VLĐ đánh giá khái quát mức độ rủi ro trong thanh toán nợ của DN. NWC được tính theo công thức sau:

NWC  = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

                                          = Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn

Dựa theo công thức, tính NWC trung bình của các nhóm DN kinh doanh xăng dầu miền Bắc có bảng sau:

Nguồn: Tổng hợp từ BCTC của các DN thuộc mẫu khảo sát và tính toán của tác giả

Số liệu trên bảng cho thấy, các DN thuộc nhóm có vốn dưới 500 tỷ đồng và nhóm DN có vốn từ 500 – 1.000 tỷ đồng đều có NWC dương trong suốt giai đoạn. Điều này cho thấy, các DN thuộc hai nhóm này có chính sách tài trợ VLĐ lành mạnh, các DN đã sử dụng mô hình tài trợ: dùng toàn bộ nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn, sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn tài trợ cho một phần tài sản ngắn hạn. Với việc, sử dụng chính sách tài trợ VLĐ này trong một thời gian dài đã giúp cho các DN đạt được cân bằng tài chính, mức độ an toàn tài chính cao hơn, giúp khả năng thanh toán ngắn hạn được đảm bảo hơn. Xem xét NWC của các DN thuộc nhóm có vốn trên 1.000 tỷ đồngcho thấy, NWC của các DN không ổn định, năm 2013, 2014 có NWC dương, năm 2015, năm 2016 có NWC âm, năm 2017 có NWC dương. Điều này cho thấy, chính sách tài trợ VLĐ của các DN đang thực hiện giai đoạn 2013 – 2017 chưa ổn định. Sự không ổn định về chính sách tài trợ VLĐ có thể gây ra những rủi ro về tài chính, mất cân bằng tài chính năm 2015, 2016 sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh. Điển hình về chính sách tài trợ VLĐ chưa lành mạnh, chưa ổn định trong giai đoạn này là Tập đoàn xăng dầu Việt Nam và công ty Xăng dầu B12, là hai DN có NWC âm liên tiếp trong 4 năm, Tập đoàn xăng dầu Việt Nam có NWC âm liên tiếp từ năm 2013 đến năm 2016, sang năm 2017 có NWC dương;  công ty xăng dầu B12 có NWC âm liên tiếp từ năm 2014 đến năm 2017.

Xem xét chi tiết cho từng nhóm DN. Nhóm DN có vốn trên 1.000 tỷ, năm 2013, NWC trung bình có giá trị dương. Cho thấy, năm 2013 các DN đã dùng toàn bộ nguồn nợ ngắn hạn để tài trợ cho TSNH và một phần TSNH được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn. Tuy nhiên, theo thống kê trong mẫu nghiên cứu, năm 2013 có 4/5 DN ( chiếm 80%) có NWC dương, có 1/5 DN (chiếm 20%) có NWC có giá trị âm. DN có NWC âm là Tập đoàn xăng dầu Việt Nam. Đây là DN đứng trong tốp đầu trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, chuyên phân phối xăng dầu, DN có giá trị âm lớn có mức giá trị là âm trên 1,1 nghìn tỷ đồng, đã ảnh hưởng lớn tới NWC trung bình, làm NWC trung bình của nhóm thấp nhất trong ba nhóm, đạt 15 tỷ đồng. Năm 2014, chính sách tài trợ VLĐ được duy trì, mức độ an toàn về tài chính cao hơn năm 2013. Bởi lẽ, NWC trung bình của nhóm là dương và đạt mức cao nhất trong ba nhóm với giá trị là 201 tỷ đồng. Tuy nhiên, năm 2014, số lượng DN có NWC dương giảm còn 3/5 DN (chiếm 60%), DN có NWC âm tăng lên thành 2/5 DN (chiếm 40%). Điều này cho thấy, quá trình thực hiện chính sách tài trợ VLĐ trong 2 DN thuộc nhóm này là Tập đoàn xăng dầu Việt Nam và công ty xăng, dầu B12 còn nhiều hạn. Hạn chế trong chính sách tài trợ VLĐ của hai DN này bộc lộ rõ hơn trong hai năm tiếp theo năm 2015, năm 2016. Đây là nguyên nhân khiến NWC trung bình của nhóm DN này có giá trị âm ở hai năm 2015, 2016, mặc dù, có 3/5 DN có NWC duy trì ở mức dương. Hạn chế trong chính sách tài trợ VLĐ ở các DN trong nhóm được khắc phục ở năm 2017. Biểu hiện rõ nhất là số lượng DN có NWC âm chỉ còn 1 DN, đó là công ty xăng dầu B12; số lượng DN có NWC dương tăng lên 4/5 DN (chiếm 80%). Điều này đã làm NWC trung bình của nhóm DN có vốn trên 1.000 tăng lên đạt mức cao nhất trong suốt giai đoạn và cao nhất trong các nhóm với  giá trị NWC trung bình là trên 1,2 nghìn tỷ đồng. Qua phân tích trên cho thấy, sự thay đổi trong chính sách tài trợ VLĐ của những DN có thị phần lớn ảnh hưởng lớn tới sự biến động của NWC bình quân.

Xét nhóm DN có vốn dưới 500 tỷ đồng và nhóm DN có vốn từ 500 tỷ đồng đến 1.000 tỷ đồng, cho thấy các DN thuộc hai nhóm này trong suốt giai đoạn nghiên cứu, chính sách tài trợ VLĐ mà các DN áp dụng luôn được duy trì, NWC trung bình của các DN thuộc hai nhóm này đều có giá trị dương. Nghĩa là, các DN luôn có TSNH lớn hơn nợ ngắn hạn. Điều này, cho thấy, sự an toàn về tài chính luôn được đảm bảo, sự cân bằng về tài chính được duy trì ổn định. Tuy nhiên, xét về độ lớn của NWC, cho thấy các DN có vốn từ 500 đến 1.000 tỷ đồng thường có NWC trung bình cao hơn các DN có vốn dưới 500 tỷ đồng. Nhìn chung, độ lớn của NWC của các DN thuộc hai nhóm này có sự biến động nhưng không lớn, luôn đảm bảo được NWC dương.

Qua phân tích chỉ tiêu NWC của các DN trong mẫu nghiên cứu, cho thấy đa số các DN kinh doanh xăng dầu miền Bắc đều theo đuổi chính sách tài trợ VLĐ theo mô hình tài trợ thứ nhất. Nghĩa là, sử dụng toàn bộ nguồn nợ ngắn hạn để tài trợ cho TSNH và một phần TSNH được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn. Theo đuổi chính sách này, giúp các DN tránh được những rủi ro tài chính, mức độ an toàn về tài chính được đảm bảo hơn.