Thực trạng về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại các quốc gia đang phát triển

Từ thực tiễn nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thực sự trở thành hình thức hợp tác, hỗ trợ kinh tế quốc tế rất hiệu quả đối với các quốc gia đang phát triển. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, lượng vốn ODA cam kết và giải ngân vào các quốc gia đang phát triển nhìn chung có xu hướng tăng qua các năm góp phần tạo nên một diện mạo mới cho nền kinh tế.

Hình 2.1 cho thấy năm 2016 có lượng vốn ODA cam kết và giải ngân đạt mức cao nhất, vốn ODA cam kết đạt 125.311 triệu USD và vốn ODA giải ngân đạt

103.110 triệu USD. Tuy nhiên, theo số liệu có thể nhận thấy vốn ODA giải ngân luôn thấp hơn lượng vốn ODA cam kết, lượng vốn ODA giải ngân đã có những biến động rất mạnh trong khoảng thời gian từ năm 1996 đến năm 2016, qua đó thấy rõ nguồn vốn ODA là nguồn vốn không thật sự ổn định.

Với hình 2.1 cho thấy trong giai đoạn 1996-2002 có mức chênh lệch vốn ODA giải ngân và cam kết thấp hơn giai đoạn 2003-2016, nổi bật đó là năm 2008 là năm có tỷ lệ vốn ODA giải ngân so với cam kết sụt giảm mạnh đạt mức thấp nhất chỉ 73%, một phần lý giải hiện tượng này đó là chủ yếu do bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến các nhà tài trợ nguồn vốn ODA gặp khó khăn trong việc cung cấp nguồn vốn này. Mặc dù trung bình trong cả giai đoạn 1996-2016 tỷ lệ giải ngân vốn ODA so với cam kết đạt 80% nhưng vấn đề đang đặt ra đó là trong những năm gần đây có thể nhận thấy chênh lệch giữa vốn giải ngân và vốn cam kết ngày càng gia tăng, điều này chứng tỏ hiệu quả khai thác nguồn vốn ODA tại các quốc gia đang phát triển có xu hướng giảm sút. Vì vậy, các quốc gia đang phát triển cần có chính sách nâng cao hiệu quả khai thác nguồn vốn hỗ trợ  phát triển chính thức (ODA) trong bối cảnh tỷ lệ vốn ODA giải ngân trên cam kết có xu hướng giảm dần.

Về lĩnh vực đầu tư, trong giai đoạn 1996-2016, so sánh chi tiết các lĩnh vực nguồn vốn ODA tài trợ tại các quốc gia đang phát triển thì lĩnh vực cơ sở hạ tầng chiếm tỷ trọng cao nhất với 46% trên tổng nguồn vốn ODA vào toàn bộ các lĩnh vực. Kế đến là viện trợ nhân đạo chiếm 16%, thứ ba là giao thông và liên lạc chiếm 12%. Các lĩnh vực nhận được vốn ODA hạn chế là các lĩnh vực nông nghiệp, môi trường và nước sạch, năng lượng. Từ thực tế này, cho thấy dòng vốn ODA đổ vào các quốc gia đang phát triển là không đồng đều ở các ngành và lĩnh vực, các nhà tài trợ nguồn vốn ODA không đầu tư một cách dàn trải đều ở mọi lĩnh vực mà chỉ chú trọng vào những lĩnh vực quan tâm nhất đó là đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng và phát triển năng lực con người tại các quốc gia đang phát triển. Qua đó, các nhà tài trợ  nguồn vốn ODA rất chú trọng và đánh giá cao vai trò của yếu tố cơ sở hạ tầng và yếu tố con người trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội tại các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn ODA.