Thực trạng về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

  • Thực trạng về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại Việt Nam
  • Những thành công đạt được của nguồn vốn ODA

Kể từ ngày 08/11/1993 khi Việt Nam chính thức nối lại quan hệ với cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế thông qua Hội nghị các nhà tài trợ dành cho Việt Nam được tổ chức tại Paris, nước Cộng hòa Pháp đã đánh dấu mở đầu cho quá trình thu hút, huy động nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam. Đến  nay, Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm tiếp nhận nguồn vốn hỗ ODA từ nhiều quốc gia và các tổ chức tài chính quốc tế trên thế giới. Việt Nam đã từ một nước nghèo vươn lên trở thành nước có thu nhập trung bình, đó là một thành công lớn của nước ta trong đó nguồn vốn ODA có vai trò ý nghĩa hết sức quan trọng đóng góp vào thành công thắng lợi này. Trong hơn 20 năm qua, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đã góp phần rất lớn trong thời kỳ đầu của sự nghiệp Đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Thông qua tiếp nhận nguồn vốn ODA, Việt Nam có thêm nguồn lực để đạt được các thành tựu về kinh tế – xã hội, đồng thời Việt Nam cũng khẳng định sự phát triển về mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước và các tổ chức tài chính quốc tế trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn.

Theo nhận định của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia nhận được nhiều viện trợ nhất trên thế giới. Tính từ năm 1993 đến năm 2016, tổng giá trị ODA ký kết của các nhà tài trợ lên đến 74,3 tỷ USD, trong đó vốn ODA giải ngân đạt 52,1 tỷ USD chiếm 70% so với vốn ODA ký kết. Trong những năm gần đây, công tác vận động và thu hút nguồn vốn ODA của Việt Nam thu được nhiều kết quả tích cực, đặc biệt giai đoạn 2006-2010 vốn ODA cam kết đạt mức cao lên đến 31,7 tỷ USD. Kết quả này cho thấy sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế với Việt Nam trong công cuộc đổi mới và chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện sự tin tưởng tín nhiệm của các nhà tài trợ vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA của Việt Nam.

Bảng 2.1. Lượng ODA cam kết, ký kết và giải ngân trong giai đoạn 1993-2016

Đơn vị tính: triệu USD

Thời kỳCam kếtKý kếtGiải ngân
1993 – 19956.1314.9541.875
1996 – 200011.5469.0066.142
2001 – 200514.88911.4957.887
2006 – 201031.75621.13113.860
2011 – 201613.873*27.78222.325

Ghi chú: (*) Số vốn ODA cam kết của năm 2011 và năm 2012. Từ năm 2013, Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) chuyển thành Diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam (VDPF). Tại Diễn đàn này, các nhà tài trợ sẽ không đưa ra số vốn ODA cam kết.

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Hiện nay, Việt Nam đã thu hút và tiếp nhận vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ rất nhiều các quốc gia và tổ chức kinh tế quốc tế trên thế giới. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam hiện có quan hệ hợp tác phát triển với 34 nhà tài trợ song phương, 23 nhà tài trợ đa phương và hơn 600 tổ chức phi Chính phủ nước ngoài. Trong đó, Nhật Bản là quốc gia có mức ký kết vốn ODA lớn nhất cho Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2016 với mức 10,1 tỷ USD, đứng thứ hai là Ngân hàng Thế giới (WB) với mức 8,5 triệu USD, tiếp sau đó là Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) với mức 5,1 tỷ USD.

Để quản lý và sử dụng vốn ODA đạt hiệu quả, phục vụ hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, Quốc hội đã có những kết quả đạt được trong công tác xây dựng pháp luật, ban hành và sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

Bảng 2.2. Các văn bản pháp lý về quản lý nguồn vốn ODA tại Việt Nam

NămKhung pháp lý về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA
1994Nghị định số 20/CP ngày 15/03/1994 ban hành “Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức”.
1997Nghị định số 87/CP ngày 05/08/1997 ban hành “Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức”.
2001Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 04/05/2001 ban hành “Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức”.
2006Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 ban hành “Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức”.
2013Nghị định 38/2013/ NĐ-CP ngày 23/04/2013 ban hành “Về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ”.
2016Nghị định số 16/2016/ NĐ-CP ngày 16/03/2016 ban hành “Về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài” thay thế nghị định 38/2013/ NĐ-CP.

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trong hơn 20 năm qua, Chính phủ đã thể chế hóa việc thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA tại 6 Nghị định Chính phủ (xem bảng 2.2), bình quân cứ khoảng 4 năm Chính phủ ban hành nghị định mới, Nghị định sau có cải tiến, tiến bộ hơn Nghị định trước. Vai trò lãnh đạo chính sách thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của Chính phủ được phân cấp mạnh cho các cơ quản chủ quản trong quá trình thực hiện, đồng thời tăng cường công tác theo dõi, giám sát tình hình và kết quả thực hiện các chương trình, dự án ODA.

Những hạn chế còn tồn tại của nguồn vốn ODA

•   Hệ thống văn bản pháp luật chưa hoàn thiện

Hệ thống văn bản pháp lý về nguồn vốn ODA của Việt Nam còn thiếu sự đồng bộ, chồng chéo, xung đột lẫn nhau và còn có sự khác biệt với các nhà tài trợ nước ngoài. Đây là một trong những hạn chế có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA. Từ năm 1993 đến nay, các Nghị định và những văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thể hiện sự kém đồng bộ với nhau và kém đồng bộ với cả nhà tài trợ. Việc quản lý nguồn vốn ODA khá phức tạp, ngoài Nghị định

được ban hành về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA thì nguồn vốn ODA còn chịu sự chi phối của các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan nhưng không có sự thống nhất. Đây là một hạn chế trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến quyết sách, chiến lược thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế nói riêng và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội nói chung.

•   Tỷ lệ giải ngân so với ký kết của nguồn vốn ODA còn thấp

Qua số liệu thống kê giai đoạn 1993-2016 cho thấy, tổng vốn ODA giải ngân được khoảng 52 tỷ USD đạt 70% trên tổng vốn ODA của các nhà tài trợ ký kết cho Việt Nam trong giai đoạn này. Từ năm 1993 đến nay, tổng số vốn ODA chưa giải ngân tích lũy lên đến 22 tỷ USD, tiến độ giải ngân các nguồn vốn trong thời gian vừa qua vẫn còn chậm so với tiến độ ký kết, số vốn ODA tồn đọng cùng với số vốn ký kết mới sẽ tạo ra áp lực lớn cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tiến độ giải ngân vốn ODA chậm gây ra những thiệt hại cả về mặt kinh tế và xã hội như: dự án bị kéo dài làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, hạn chế khả năng trả nợ, đưa công trình vào sử dụng chậm làm thay đổi kế hoạch khai thác các chương trình, dự án ODA, ảnh hưởng đến thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, an sinh xã hội của đất nước, đồng thời làm giảm uy tín Việt Nam đối với các nhà tài trợ về năng lực tiếp nhận và sử dụng ODA, tác động không tốt đến vận động thu hút nguồn vốn này. Tỷ lệ giải ngân vốn ODA còn thấp do một số nguyên nhân chủ yếu sau: Một là, quy trình thủ tục của Chính phủ và bên đối tác nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức chưa hài hòa. Quy trình và thủ tục của Chính phủ về quản lý chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA còn phức tạp và thiếu nhất quán. Những vướng mắc trong quy trình thủ tục đã gây ra những khó khăn trong tiến trình giải ngân nguồn vốn ODA tại Việt Nam. Hai là, việc bố trí vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA chưa đầy đủ và kịp thời, dẫn đến giải ngân vốn ODA bị chậm, không đúng tiến độ. Do nguồn vốn ngân sách nhà nước những năm gần đây gặp nhiều khó khăn nên việc bố trí vốn đối ứng không kịp thời đã ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện các dự án ODA cũng như tiến độ giải ngân vốn ODA. Ba là, thời gian chuẩn bị và phê duyệt chương trình, dự án ODA thường bị kéo dài. Bắt đầu từ khâu đề xuất ý tưởng, lên kế hoạch đến khâu phê duyệt và ký kết thường mất từ 2 đến 3 năm, nội dung của chương trình, dự án ODA phải bổ sung và điều chỉnh nhiều lần. Thực tế, trong quá trình triển khai dự án ODA việc sửa đổi, điều chỉnh diễn ra khá thường xuyên, nên việc lấy ý kiến nhiều Bộ, ngành liên quan sẽ tốn nhiều thời gian, ảnh hưởng đến thời gian hoàn thành các chương trình, dự án ODA. Bốn là, công tác quản lý và tổ chức thực hiện chương trình, dự án ODA còn nhiều bất cập. Tổ chức, thực hiện đấu thầu kéo dài, năng lực đàm phán, ký kết và quản lý hợp đồng còn hạn chế. Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý dự án sử dụng nguồn vốn ODA chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, thiếu tính chuyên nghiệp. Nhân sự các Ban quản lý dự án ODA thường không ổn định, đa số đều là làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý dự án chưa được thực hiện thường xuyên và có hệ thống. Năm là, chính sách đền bù và giải tỏa còn bất cập, làm chậm tiến độ bàn giao mặt bằng cho dự án. Nguyên nhân phổ biến gây ra sự chậm chễ trong giải ngân các chương trình, dự án ODA là việc đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư. Nhất là đối với các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng cần mặt bằng rộng ở các thành phố lớn đông dân và nhà đất có giá trị cao, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng chi phí của dự án.