Thực trạng về phát triển đồng bộ các loại thị trường

.1.Phát triển KTTT –bước ngoặt chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam.

Năm 1986, Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam được đánh dấu như một mốc lịch sử ,khởi xướng công cuộc đổi mới ở nước ta từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.Với những đặc điểm sau:
-Vấn đề sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai ,nhà máy ,công xưởng và các cơ sở hạ tầng công cộng …chuyển sang thị trường đang được luật hóa ngày càng hoàn chỉnh
-Vai trò chủ đạo của quốc doanh đã được thay đổi rộng mở hơn .Đó là vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước mà trong đó doanh nghiệp Nhà nước chỉ là một bộ phận.
-Hợp tác xã hội đổi mới theo nguyên tắc :tự nguyện ,bình đẳng ,dân chủ và cùng có lợi .
-Kinh tế tư nhân được phát triển bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.
-Quyền tự chủ của các doanh nghiệp trong sản xuất và phân phối được mở rộng .
-Xoá bỏ dần sự độc quyền của Nhà nước về ngoại thương.Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế xuất khẩu ra nước ngoài.
-Nền kinh tế song phương ,đa phương cùng có lợi.

Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “Thúc đẩy sự hình thành và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN ,đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như:thị trường lao động ,thị trường chứng khoán ,thị trường bất động sản,thị trường khoa học công nghệ”.

2.Thực trạng phát triển

2.1.Thực trạng chung.

Lịch sử phát triển của các loại thị trường ở các nước phát triển đI từ thấp đến cao ,từ đơn giản đến phức tạp ,từ chưa đồng bộ đến đồng bộ .Trong khi đó ,nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam đang còn ở giai đoạn bước đầu hình thành.Đối với nước ta ,trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường ,việc tạo lập và xây dựng hệ thống thị trường đồng bộ đang bị những lực cản của cơ chế bao cấp để lại,trong khi những đIều kiện cho thị trường phát triển chưa đủ mạnh .Thị trường đòi hỏi cạnh tranh và chịu rủi ro khi hành động tráI với quy luật thị trường trong khi đó nhiều doanh nghiệp lại muốn an toàn, bảo hộ và bao cấp . Từ cơ chế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường ,nền kinh tế nước ta đang từng bước hình thành các loại thị trường mới.Cùng với các thị trường thông thường như thị trường hàng hoá dịch vụ ,các thị trường tàI chính ,thị trường KHCN,thị trường BĐS đang được hình thành.

Nhìn chung các loại thị trường này của ta còn mới sơ khai chưa hình thành đồng bộ xét về trình độ ,phạm vi và sự phối hợp các yếu tố thị trường trong tổng thể toàn hệ thống.

Một số loại thị trường hàng hóa và dịch vụ thông thường (như ăn uống ,khách sạn ,du lịch ,hàng tiêu dùng…)đã phát triển nhanh chóng và phát huy được hiệu quả trong cơ chế thị trường.Trong khi đó ,một số loại thị trường còn rất sơ khai hoặc chưa hình thành đồng bộ và bị biến dạng .Có thị trường bị bóp méo,hoạt động “ngầm “,Nhà nước khó có khả năng kiểm soát.

2.2.Thực trạng cho từng loại thị trường.

2.2.1.Thị trường hàng hoá và dịch vụ.

Trên thị trường đã có đủ các thành phần kinh tế ,đông đảo thương nhân với các hình thức sở hữu khác nhau.Tuy nhiên, lực lượng đông đảo nhất là các doanh nghiệp ngoàI quốc doanh,tư thương ,tiểu thương.

Quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường đã thay đổi một cách cơ bản từ chỗ thiếu hụt hàng hoá sang trạng tháI đủ và dư thừa.Nhiều mặt hàng trước đây phảI nhập khẩu thì đến nay sản xuất nội địa đã đảm bảo yêu cầu trong nước và có thể xuất khẩu như gạo ,đường,xi măng…Qúa trình thương mại hóa các yếu tố kinh tế đem lại sự cởi trói các nhu cầu.Từ chỗ dịch vụ chỉ là hoạt động yểm trợ bán hàng đã phát triển thành địa hạt của các nhà đầu tư kinh doanh.Ngành kinh doanh dịch vụ đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của nền sản xuất xã hội.

Thị trường trong nước bước đầu đã có sự thông thương với thị trường quốc tế.Dù ở mức độ còn hạn chế nhưng sự tác động của tăng trưởng hay suy thoáI trên thị trường quốc tế đã bắt đầu ảnh hưởng đến thị trường trong nước.Do chính sách của nền kinh tế ,hàng hoá ngoại nhập tràn ngập thị trường nội địa .Hàng ngoại đang có ưu thế so với hàng sản xuất trong nước.Thêm vào đó là sự yếu kém về chất lượng ,giá cả ,quy cách,chủng loại của hàng nội địa và tâm lý sùng báI hàng ngoại đã làm cho hàng nội yếu thế.

Thị trường Việt Nam đã có sự phát triển cả về lượng và chất.Thị trường quốc té của Việt Nam phát triển với tốc độ cao trong những năm gần đây.Chính sách mở cửa của nền kinh tế,phương châm đa phương hoá,đa dạng hoá của Việt Nam đã gặt háI được nhiều thành công.ĐIểm nổi bật trong xuất khẩu của Việt Nam những năm qua là đã xuất khẩu được đến thị trường đích và nhập khẩu được từ thị trường nguồn.Nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam đã có tiếng trên thị trường thế giới.

Sự quản lý và đIều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với thị trường và thương mại đã có nhiều đổi mới.Đổi mới trước hết là cơ chế quản lý thị trường.Các chính sách quản lý và công cụ quản lý của Nhà nuớc đối với thị trường được nghiên cứu kỹ và thông thoáng hơn,Nhà nước đã tạo lậo được môI trường pháp lý cho các hoạt động trên thị trường.

Trên thị trường đang tồn tại ách tắc và mâu thuẫn lớn.Nói chung,thị trường hàng hoá,dịch vụ ở Việt Nam mới bước đầu được hình thành và trình độ còn thấp.Về cơ bản,thị trường vẫn là manh mún,phân tán và nhỏ bé.Sức mua còn thấp,hàng hoá bị ứ đọng khó tiêu thụ,thị trường xúât khẩu phát triển nhưng không ổn đinh,thiéu bền vững.Sự chậm chễ và thiếu đồng bộ trong ban hành các chính sách kinh tế đã làm trầm trọng thêm những khuyết tật của thị trường.

2.2.2.Thị trường lao động

– Ở Việt Nam hiện nay,thị trường lao động từ chỗ không tồn tại đã bắt đầu hình thành và phát triển.Xây dựng một thị trường lao động sôI động và ổn định,có hiệu quả,là một quá trình lâu dàI và khó có thể trông đợi một bướcnhảy vọt đột biến.

– Trong điều kiện hiện nay,thị trừơng lao động đang là một áp lực lớn vì sự mất cân đối nghiêm trọng do tác động đồng thời của nhân tố (tốc độ tăng dân số,hậu quả của cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước đây,sự hạn chế về vốn,công nghệ….sức ép về việc làm rất lớn trong hiện tại và tương lai.Do vậy,vấn đề giải quyết việc làm và đảm bảo việc làm là một mục tiêu kinh tế quan trọng đang được đặt ra.

– Sự phân tầng về việc làm,thu nhập,phân phối đang diễn ra khá phức tạp khi ta chuyển sang nền kinh tế thị trường. Cũng là việc làm nhưng việc làm ở các trình độ khác nhaiu, địa điẻm khác nhau,thì thu nhập cũng đã khác nhau.Đồng thời việc thu hút lao động từ nông thôn ra thành thị vào các khu vực công nghiệp lại nảy sinh nhiều vấn đề xã hội kéo theo như nhà ở ,dịch vụ,nhiều mặt trái của thị trường cũng nảy sinh như ma tuý ,mại dâm ,những thị trường dịch vụ tiêu cực khác nhau mà chúng ta không mong muốn .Sự vận động trái chiều trong nền kinh tế thị trường tích cực ,tiêu cực một phần do hiệu lực của hệ thống chính sách ,pháp luật và tính thiếu đồng bộ trong hệ thống chính sách ,luật pháp của ta.

2.2.3.Thị trường bất động sản(BĐS).

Giai đoạn từ trước đổi mới 1986 ,thị trường BĐS còn lu mờ,đầu tư phân phối chủ yếu do Nhà nước chi phối,tư duy của phần lớn đầu tư về thị trường BĐS chưa phát triển do yếu tố kinh tế –xã hội ,cơ chế chính sách còn rất hạn chế.
Giai đoạn từ 1986 đến nay ,nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư kinh doanh BĐS ,thị trường BĐS bước đầu phát huy được vai trò thúc đẩy kinh tế trên nhiều mặt.

*Thành tựu:

Thị trường BĐS phát triển đã góp phần thu hút được đáng kể các nguồn vốn đầu tư phát triển ,sản xuất –kinh doanh trên nhiều lĩnh vực.
Thông qua thực tế phát triển và vận hành thị trường BĐS ,các thể chế kinh tế từng bứơc được hoàn thiện phục vụ yêu cầu của xã hội.

*Hạn chế:

Hệ thống chính sách liên quan đến thị trường BĐS có nhiều nhưng chưa toàn diện và thiếu đồng bộ .Tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý đất đai không thống nhất từ trên xuống dưới.Trên qui định thông thoáng nhưng dưới thực hiện chặt chẽ hoặc ngược lại.
Cơ cấu thị trường BĐS chưa hoàn chỉnh ,nhiều thành tố của thị trường hình thành tự phát chưa có quy định của nhà nước ,nhiều thành tố đã có nhưng chưa hoàn thiện.Cung và cầu luôn trong tình trạng mất cân đối quá lớn cả về số lượng lẫn chủng loại bất động sản,cộng với tình trạng đầu cơ bất động sản,làm tăng nhu cầu mở “ảo”,đẩy giá cả BĐS ở nhiều khu vực cao hơn thực tế.

Giao dịch không chính quy chiếm tỷ lệ cao,đặc biệt là đối với BĐS là nhà ở,đất ở,gây thất thu cho ngân sách.Quy trình mua bán phức tạp,qua nhiều khâu trung gian.Thông tin trên thị trường BĐS khó tiếp cận,không đầy đủ,thiếu minh bạch.

2.2.4.Thị trường vốn.

– Hệ thống văn bản pháp luật tạo đIều kiện cho thị trường phát triển,chính phủ và các bộ ngành liên quan đã từng bưỡc xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật về chứng khoán và các chính sách khuyến khích thị trường tương đối đầy đủ,để đIều chỉnh các hoạt động trên thị trường chứng khoán trong thời gian đầu.

– Tuy nhiên thị trường vẫn còn nhiều hạn chế,đặc biêt đối với thị trường chứng khoán qui mô quá khiêm tốn.Số lượng hàng hoá trên thị trường chứng khoán chưa cao nên kém hấp dẫn nhà đầu tư.

– Năng lực tiếp cận các nguồn lực tài chính của nền kinh tế còn yếu kém và chưa đồng bộ. Dịch vụ ngân hàng đơn điệu chưa tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho khách hàng thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng.

– Cơ cấu hệ thống ngân hàng côn yếu kém.Năng lực tài chính của nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam còn yếu,nợ quá hạn còn khấ cao,đặc biệt là các Ngân hàng thương mại Nhà nứơc(chiếm hơn 70% huy động vốn và gần 30% thị phần tín dụng).Vốn tự có còn thấp và chưa xứng với thị phần,khả năng tăng vốn tự có còn hạn chế.

2.2.5.Thị trường KHCN

* Thành tựu

– Việc phát triển KHCN ở nước ta đã có đựoc những thành tựu ban đầu.Chúng ta thực hiện việc đi tắt đón đầu,do vậy đã tiếp cận được nhiều KHCN trên thế giới,ở Việt Nam hiện nay,thị trường KHCN là thị trường chuyển giao và mua bán công nghệ.Quá trình chuyển giao mua bán công nghệ chủ yếu được thực hiện thông qua vá hoạt động phát triển sản xuất kinh doanh của các đoanh nghiệp.Nhà nước chủ yếu tạo đIều kiện hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến các công nghệ.

*Hạn chế

– Việt Nam xuất phát điểm là một nước nông nghiệp,do vậy trình độ KHCN còn yếu kém,việc tiếp cận nền tri thức còn hạn chế.