Thực trạng việc hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta

1. Trước đổi mới

Từ năm 1975 đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, cách mạng Việt Nam hoàn toàn chuyển sang giai đoạn mới, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát  rất thấp lại chịu ảnh hưởng nặng nề do chiến tranh kéo dài. Trong 15 năm nhân dân ta đã không ngừng phấn đấu vựot qua bao khó khăn thử thách mới giành được độc lập thống nhất đất nước. Chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bước xác lập quan hệ sản xuất mới bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển sự nghiệp văn hoá giáo dục  y tế, thiết lập củng cố chính quyền nhân dân trong cả nước. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến và nặng nề tính tự cung tự cấp. Trình độ trang thiết bị kỹ thuật trong sản xuất cũng như trong kết cấu hạ tầng kinh tế văn hoá xã hội lạc hậu, mất cân đối, chưa tạo được tích luỹ trong nước và lệ thuộc nhiều vào bên ngoài. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả tiêu cực do đó nền kinh tế hoạt động với hiệu quả thấp.

Khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra nhiều với đặc trưng sản xuất chậm và không ổn định, lạm phát lên đến 774,7% năm 1986. Tài nguyên thiết bị lao động và tài năng mới được sử dụng thấp. Đời sống nhân dân thiếu thốn, nếp sống văn hoá tinh thần và đạo đức kém lành mạnh, trật tự an toàn xã hội không được đảm bảo, tham nhũng nhiều và tệ nạn xã hội phát triển.

Trên thực tế nền kinh tế nước ta từ nghị quyết hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành Trung ương khoá IV (năm 1979) các quan hệ hàng hoá tiền tệ đã được chấp nhận nhưng mới ở mức độ thứ yếu. Đó là do qua nhiều thập kỷ qua, tư tưởng kinh tế xã hội chủ nghĩa mang nặng thành kiến coi quan hệ hàng hoá và cơ chế thị trường là biểu hiện thuộc tính của chế độ tư hữu và tư bản. Mặt khác là do chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình dập khuôn giáo điều chủ quan duy ý chí các mặt bố trí cơ cấu kinh tế thiếu về phát triển công nghiệp nặng, quy mô lớn với xoá bỏ các hình thức kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, nặng nề hình thức phủ nhận nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường, bộ máy quan liêu cồng kềnh kém hiệu quả. Những sai lầm đó đã dẫn đến việc kìm hãm lực lượng sản xuất và nhiều động lực phát triển, cuộc cải cách kinh tế bị đẩy lùi. Tư tưởng Lênin trong chính sách kinh tế Mác bị xem như bước lùi tạm thời bất đắc dĩ.

2. Sau đổi mới

Khi chuyển sang kinh tế thị trường  chúng ta đứng trước thực trạng là đất nước đã và đang từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từ một xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất  xã hội thấp. Không những thế, đất nước ta lại trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại vô cùng nặng nề, những tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.

Từ những đặc điểm trên ta có thể nhận xét rằng: nền kinh tế nước ta không còn hoàn toàn là nền kinh tế tự cung tự cấp nhưng cũng chưa phải là nền kinh tế hàng hoá theo ý nghĩa đầy đủ. Mặt khác do có sự đổi mới về mặt kinh tế nền kinh tế nước ta khi chuyển sang kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá kém phát triển, còn mang nặng tính chất tự cấp là ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Thực trạng đó được thể hiện ở các mặt sau:

– Thứ nhất, kinh tế hàng hóa kém phát triển, nền kinh tế còn mang nặng tính tự cung tự cấp, cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả, chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó và năng suất lao động xã hội và thu nhập quốc dân tính theo đầu người còn thấp.

Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta đã được hình thành và phát triển, vì vậy thị trường nước ta cũng được hình thành và phát triển. Xem xét khái quát về thị trường nước ta trong những năm qua vẫn thấy còn là thị trường ở trình độ thấp, tính chất của nó vẫn còn hoang sơ, dung lượng còn yếu và có phần rối loạn. Chúng ta mới có thị trường hàng hoá nói chung, trước hết là thị trường hàng tiêu dùng thông thường với hệ số giá cả và quan hệ mua bán bình thường. Về cơ bản chúng ta chưa có thị trường sức lao động, thị trường tiền vốn trong khu vực kinh tế nhà nước. Thực trạng này của thị trường nước ta là do kết quả của nhiều nguyên nhân khác nhau. Về mặt khách quan là do trình độ phát triển của phân công lao động xã hội còn thấp, nền kinh tế còn mang nặng tính tự cấp tự túc. Về mặt chủ quan là do những nhận thức chưa đúng đắn của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, là do sự phân biệt duy ý chí giữa thị trường có tổ chức và thị trường tự do.

Điều cần thiết phải rút ra từ thực trạng của thị trường trên đây là: với tất cả tính phức tạp và các mặt tiêu cực xảy ra trên thị trường, việc chuyển nền kinh tế nước ta sang kinh tế thị trường vẫn đưa tới mức tiến bộ về mật kinh tế hơn hẳn trước đây và tạo khả năng dẫn tới bước ngoặt quyết định. Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải tiếp tục thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển của thị trường ngày càng đầy đủ và thông suốt, thống nhất trên phạm vi cả nước, phải gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế.

Thứ hai về thực trạng của nền kinh tế nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường là ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Hai cơ chế kinh tế cũ và mới (cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và thị trường) có nhiều đặc điểm khác nhau, điểm khác nhau cơ bản nhất là: cơ chế cũ hình thành trên cơ sở thu hẹp hoặc gần như xoá bỏ quan hệ hàng và tiền tệ, làm cho nền kinh tế bị “ hiện vật hoá” còn cơ chế mới hình thành trên cơ sở mở rộng quan hệ hàng hoá tiền tệ.

Quy luật tồn tại trong cơ chế giao nộp và cấp phát chỉ là hình thức, việc mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá là một tất yếu lịch sử cho nên hạn chế quuan hệ hàng hoá tiền tệ và quy luật giá trị trở thành sự cản trở tiến bộ kinh tế, kìm hãm nhân tố mới. Do đó làm cho nhà nước không thể làm chủ những quá trình kinh tế khách quan mặc dù trong tay nhà nước có thực lực kinh tế to lớn. Vì vậy, đại hội lần thứ VII  Đảng ta đã khẳng định: Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp hình thành cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch  chính sách và các công cụ khác. Xây dựng và phát triển đồng bộ hàng tiêu dùng, vật tư, dịch vụ sức lao động… thực hiện kinh tế thông suốt trong cả nước và với thị trường thế giới.

Xuất phát từ nhiệm vụ bao trùm về chính sách đối ngoại và quan điểm: “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, chính sách knh tế đối ngoại của nền kinh tế hàng hoá nước ta hiện nay  được thực hiện theo những định hướng sau:

Đa dạng hoá, đa phương hoá kinh tế với mọi quố gia, mọi tổ chức kinh tế không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc tôn trong độc lập chủ quyền bình đẳng và cùng có lợi. Củng cố và tăng cường vị trí của Việt Nam ở các thị trường quen thuộc  và với bạn hàng truyền thống, tích cực thâm nhập và tạo  chỗ đứng ở thị trường mới, phát triển các mối quan hệ dưới mọi hình thức.

Kinh tế đối ngoại là một trong các công cụ kinh tế bảo đảm cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đề ra cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể và phục vụ đắc lực mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường hội nhập vào nền kinh tế thế giới, phát huy  ý chí tự lực tự cường; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực ở bên ngoài.

Theo những định hướng trên, mấy năm qua, hoạt động kinh tế đối ngoại ở nước ta đã lập lại quan hệ bình thường với các quan hệ tài chính, tiền tệ quốc tế, bước đầu đã thu đựoc những thành tựu quan trọng về kinh tế đối ngoại.

Ngoài ra nền kinh tế thị trưòng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa cần có sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế thị trường ở nước ta khác với nền sản xuất hàng hoá giản đơn trứoc đây, cũng như khác với nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này cũng chính là mô hình kinh tế khái quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Mô hình kinh tế đó có những đặc trưng riêng , làm cho nó khác với kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa.

3. Hạn chế trong phát triển kinh tế

Măc dù nước ta đã đạt được nhưng thành tựu nhất định trong phát triển kinh tế và ổn định tình hình chính trị xã hội nhưng không phải không còn nhưng tồn tại cần được giải quyết nhất là những tồn tại trong việc điều hành nền kinh tế và giải quyết các vấn đề thương mại .Tuy những khó khăn này chỉ là tạm thời nhưng chúng ta vẫn phải giải quyết để làm lành mạnh hoá nền kinh tế và đẩy nhanh công cuộc phát triển kinh tế nước nhà .

Một trong những hạn chế lớn hiện nay là Việt Nam còn thiếu quá nhiều thông tin, đặc biệt là thông tin trong lĩnh vực kinh tế. Không có các thông tin cần thiết về thị trường, về Luật kinh tế dẫn đến nhiều thất bại. Đáng chú ý là vấn đề thương hiệu và gần đây là những khó khăn trong việc thâm nhập thị trường Mỹ. Chính từ hai nguyên nhân này mà Việt Nam thất bại trong vụ kiện cá ba sa.Về mặt nào đó vụ kiện này có mặt thiên vị cho Hiệp hội chủ trại cá nheo Mỹ nhưng phải thừa nhận chúng ta đã không có nhưng thông tin cần thiết và cũng không tiến hành những hoạt động mà đáng ra chúng ta phải thực hiện trước khi thâm nhập và thành công trên thị trường khó tính này. Một hạn chế khác là chúng ta vẫn còn tồn tại những nghành kinh tế còn quá yếu kém khi mà chúng ta đã và đang dỡ bỏ một số hạn ngạch thuế quan cho một số mặt hàng để chuẩn bị cho quá trình tham gia tổ chức thương mại quốc tế WHO. Nguyên nhân của sự khó khăn này một phần là do còn có nhưng ngành kinh tế hoạt động không hiệu quả đặc biệt trong sử dụng vốn. Một phần là do một phần những ngành khác có tỷ lệ nội địa hoá thấp. Ngoài ra vẫn phải thừa nhận là các ngành kinh tế Việt Nam phát triển phần lớn là dựa vào sự tăng lên về vốn. Theo thống kê gần đây thì trong cơ cấu một đồng sản phẩm tăng lên thì có tới 74% là do tăng về vốn, 14% do lao động và chỉ có 12% là do sự tăng lên về năng suất thôi. Trong những nghành có tỷ lệ nội địa hoá thấp thì có thể kể đến ngành ô tô và công nghệ tin học, phần lớn hàng hoá sản xuất trong nước mới dừng ở mức lắp ráp sản phẩm linh kiện nhập từ nước ngoài về.Ví dụ ngành ô tô tỷ lệ nội địa hoá mới ở mức 8%, cao nhất là Toyota Việt Nam tỷ lệ này cung chỉ đạt 14%. Hiện nay một trong những vấn đề mà các nhà quản lý không thể giải quyết mâu thuẫn giữa việc giảm để kích thích tiêu dùng các loại hàng hoá đồng thời phải tăng thuế để buộc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ nội địa hoá.

Đó là trên sân nhà, còn trên thị trường thế giới thì sao? Nói chung hàng hoá Việt Nam vẫn còn chủ yếu cạnh tranh bằng giá. Nói chung công nghệ sản xuất của Việt Nam còn khá lạc hậu nên hàng hoá có giá trị thấp, hàm lượng khoa học không cao. Kết quả dễ thấy là lợi nhuận sẽ thấp. Trong khi đó, Việt Nam lại chưa vươn tới những thị trường dễ tính như châu Phi, Đông Âu… mà chủ yếu hàng hoá xuất sang EU, Nhật và Mỹ vốn là những thị trường khó tính đòi hỏi những tiêu chuẩn khắt khe. Các tham tán thương mại cũng chưa hoạt động hiệu quả trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường. Một vấn đề nữa là hàng hoá Việt Nam vẫn hay bị một số nước mua lại, dán nhãn mác khác để bán ra thị trường. Đây là một thiệt thòi lớn cho chúng ta không chỉ là lợi nhuận mà còn liên quan đến những quyền lợi và tài sản vô hình khác.

Không chỉ vậy, trong lĩnh vực quản lý nhà nước chúng ta cũng còn tồn tại không ít những hạn chế đặc biệt trong lĩnh vực quản lý hành chính và chế độ tài chính công. Phải thừa nhân rằng bộ máy hành chính của Việt Nam còn rất cồng kềnh và còn quá nhiều khâu trùng lặp. Mặc dù chúng ta đã có những cải cách trong rút gọn thủ tục hành chính nhưng vẫn còn khá phức tạp, chưa thực sự thông thoáng. Tiêu biểu là việc cải thiện chế độ hải quan tại các cảng biển nước ta. Theo đánh giá của các nhà kinh doanh nước ta đây là một tiến bộ lớn nhưng sau một thời gian kiểm điểm lại chính chúng ta cũng phải thừa nhận những khiếm khuyết vẫn còn tồn tại. Đồng thời với việc nặng nề trong thủ tục hành chính thì vấn đề liên hệ giữa các thành phàn tham gia giải quyết cũng chưa thông suốt. Hệ thống luật Việt Nam cũng chưa thực sự hoàn thiện và thiếu sự ổn định. Đặc biệt là hệ thống luật kinh tế nói chung luôn thay đổi gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Gần đây các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đưa ra những kiến nghị của các doanh nghiệp xung quanh vấn đề mua hoá đơn GTGT. Theo ý kiến của các chuyên gia nước ngoài tham gia giúp đỡ Việt Nam trong việc soạn thảo các văn bản luật thì nguyên nhân chính là do Việt Nam có quá nhiều văn bản chồng chéo. Ngoài luật còn có thông tư, chỉ thị, hướng dẫn.Đôi khi chính những văn bản này lại hạn chế lẫn nhau, mâu thuẫn với nhau. Bộ máy hành chính còn cồng kềnh cũng hạn chế khả năng hoạt động của các nhà đầu tư. Cái khó nhất ở đây là bộ máy hành chính càng cồng kềnh càng tạo ra nhiều khâu trung gian, càng làm mất thời gian của doanh nghiệp trong khi đó có không ít khâu còn có sự chồng chéo nhau không phân định rõ phạm vi hoạt động.