Thực trạng viện trợ của Trung Quốc dành cho Châu Phi (tham khảo)

Viện trợ của Trung Quốc cho Châu Phi bắt đầu từ năm 1956 sau Hội nghị Bandung. Sau Hội nghị này, Trung Quốc đã đề ra 8 nguyên tắc trong viện trợ nước ngoài, nhấn mạnh viện trợ nước ngoài của Trung Quốc không phụ thuộc vào các chế độ hoặc chất lượng chính quyền của các nước tiếp nhận. Đối với khu vực Châu Phi, chính sách viện trợ của Trung Quốc cho Châu Phi đã có nhiều thay đổi. Trong Diễn đàn Hợp tác Trung Quốc – Châu Phi lần thứ nhất  (FOCAC) năm 2000, Trung Quốc đã tuyên bố “Hoan nghênh các nỗ lực và các sáng kiến song phương của các nhà tài trợ nhằm giúp đỡ Châu Phi giảm nợ nần… Các nước phát triển có trách nhiệm và nghĩa vụ cung cấp tài chính, kỹ thuật và những sự giúp đỡ khác cho các nước đang phát triển, đặc biệt là Châu Phi. Về phía mình, các nước đang phát triển cũng nên thống nhất và phối hợp chặt chẽ với nhau hơn nữa, tận dụng tối đa lợi thế và hạn chế những bất lợi thế, cùng nhau vượt qua các thách thức từ toàn cầu hóa”.

Tại FOCAC năm 2006, các bên đã thông qua Kế hoạch hành động Bắc Kinh, với kế hoạch tăng cường hợp tác kinh tế toàn diện giai đoạn 2006-2009.

Trong lời phát biểu khai mạc, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố 8 vấn đề cam kết viện trợ cho Châu Phi, cụ thể là:

  • Tăng gấp đôi số tiền viện trợ cho Châu Phi trong giai đoạn 2006-2009.
  • Cung cấp khoản vay ưu đãi trị giá 3 tỷ USD và khoản tín dụng ưu đãi cho khách hàng trị giá 2 tỷ USD trong vòng 3 năm.
  • Thành lập Quỹ phát triển Trung Quốc – Châu
  • Xây dựng trung tâm hội nghị cho Liên minh Châu Phi (AU) để hỗ trợ sự hợp tác của các nước Châu
  • Xóa nợ chính phủ cho các nước Châu Phi dưới mọi hình thức tính đến hết năm
  • Mở cửa thị trường Trung Quốc cho hàng hóa Châu Phibằng cách tăng ưu đãi thương mại với thuế suất 0% đến từ các nước Châu Phi kém phát triển nhất đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc.
  • Thành lập từ 3 đến 5 khu hợp tác kinh tế và thương mại ở Châu Phi trong 3 năm tới.
  • Đào tạo 15.000 chuyên gia cho các nước Châu Phi, gửi 100 chuyên gia nông nghiệp sang Châu Phi, thành lập 10 trung tâm nghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp ở Châu Phi, xây dựng 30 bệnh viện ở Châu Phi, trợ cấp 300 triệu NDT để xây dựng 30 trung tâm phòng chống dịch sốt rét ở Châu Phi, cử 300 thanh niên tình nguyện sang Châu Phi, xây dựng 100 trường học nông thôn ở Châu Phi…

Tại FOCAC năm 2009 tổ chức ở Ai Cập, Trung Quốc tiếp tục công bố 8 vấn đề công bố cam kết viện trợ cho Châu Phi nhằm tăng cường quan hệ đối tác chiến lược của Trung Quốc với Châu Phi. Vào tháng 4 năm 2011, Trung Quốc công bố Sách trắng viện trợ lần thứ nhất, và Trung Quốc công bố viện trợ dành cho Châu Phinăm 2009 chiếm tới 45,7% tổng số tiền viện trợ của Trung Quốc ra nước ngoài, đồng thời tiếp tục cam kết viện trợ cho Châu Phitrên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ trợ cấp, vay nợ ưu đãi, viện trợ phát triển kinh tế, trợ giúp phát triển giáo dục, y tế, viện trợ nhân đạo…Trong Sách trắng viện trợ lần thứ nhất, Trung Quốc khẳng định “Trung Quốc không sử dụng viện trợ như một công cụ để can thiệp vào mối quan hệ nội bộ của các nước tiếp nhận hoặc tìm kiếm đặc quyền chính trị ở nước tiếp nhận…; Viện trợ trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi, vì sự phát triển chung, giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước đang phát triển, tập trung vào các lĩnh vực cụ thể, phù hợp với lợi ích của các nước tiếp nhận…”.

Trong Sách trắng viện trợ của Trung Quốc lần thứ 2 (năm 2014), Trung Quốc nhấn mạnh cơ chế viện trợ dành cho Châu Phi là thông qua FOCAC, đồng thời tập trung vào việc hình thành Đối tác chiến lược mới Trung Quốc – Châu Phi, cam kết tiếp tục viện trợ cho các nước Châu Phitrong các lĩnh vực ưu tiên như: phát triển nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển liên kết khu vực, hợp tác y tế và sức khỏe, xây dựng năng lực thể chế, chống biến đổi khí hậu và một số lĩnh vực khác…Trong Sách trắng viện trợ lần thứ hai, Trung Quốc khẳng định vị trí lớn nhất của mình trong nhóm nước đang phát triển, mong muốn trợ giúp các nước đang phát triển khác cùng phát triển trong khuôn khổ hợp tác Nam – Nam.

Trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Châu Phi tháng 3 năm 2013, nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tăng gấp đôi khoản cam kết viện trợ lên tới 20 tỷ USD cho giai đoạn 2013-2015. Tháng  11 năm 2013, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc tuyên bố đến năm 2025, Trung Quốc sẽ cung cấp cho Châu Phi với 1.000 tỷ USD hỗ trợ tài chính trong đó có đầu tư trực tiếp, các khoản cho vay ưu đãi và thương mại.

Về hình thức, viện trợ nước ngoài của Trung Quốc cho Châu Phi rất đa dạng, có thể tạm phân thành hai loại: nguồn vốn kiểu viện trợ phát triển chính thức (ODA) và các nguồn vốn viện trợ chính thức khác như tài chính hải ngoại chính thức (OOF). Trong ODA, Trung Quốc sử dụng các hình thức như trợ giúp kỹ thuật hoặc trao đổi học giả, vay nợ với các khoản trợ cấp lớn, trợ cấp có mục đích, giảm nợ, viện trợ quân sự có mục đích. Trong OOF, có vay nợ với các khoản trợ cấp nhỏ, vay nợ không có mục đích, tín dụng lãi suất thấp.

Về chủ thể, viện trợ nước ngoài của Trung Quốc dành cho Châu Phi do nhiều cơ quan đảm nhiệm khác nhau. Trước hết, Hội đồng nhà nước, dẫn đầu là thủ tướng, đóng vai trò quan trọng trong việc đề ra các chiến lược viện trợ ra nước ngoài hàng năm của Trung Quốc. Thủ tướng có trách nhiệm kiểm soát chi tiêu ngân sách viện trợ phát triển hàng năm, xem xét các khoản viện trợ, quyết định các chiến lược và chính sách viện trợ…Thứ hai là Bộ Thương mại trung Quốc (MOFCOM), có trách nhiệm kiểm soát các khoản trợ cấp và các khoản vay nợ lãi suất thấp ở nước ngoài. MOFCOM có Ủy ban viện trợ nước ngoài, có trách nhiệm thực hiện các vấn đề thuộc về viện trợ nước ngoài. MOFCOM phối hợp với Ngân hàng Exim của Trung Quốc để thực hiện các khoản giãn nợ của các đối tác nước ngoài. Thứ ba là Ngân hàng Exim Trung Quốc và Ngân hàng phát triển Trung Quốc (CDB) có trách nhiệm cung cấp các khoản tín dụng xuất khẩu, giãn nợ cho các đối tác nước ngoài. Thứ tư, Bộ tài chính (MOF) có trách nhiệm liên quan đến vấn đề giảm nợ cho các đối tác nước ngoài. Thứ năm, Bộ ngoại giao (MOFA) có trách nhiệm xem xét các đề xuất dự án của các nước tiếp nhận viện trợ, phối hợp với MOFCOM để thiết lập các kế hoạch và mức độ viện trợ hàng năm, tổ chức các FOCAC hàng năm.

Các chủ thể đa dạng về viện trợ nước ngoài của Trung Quốc dành cho Châu Phi thể hiện hệ thống quản lý viện trợ ở Trung Quốc rất phức tạp. Nó cho thấy viện trợ của Trung Quốc dành cho Châu Phi luôn đi liền với các điều kiện về trao đổi hàng hóa và dịch vụ thông qua việc có mặt của Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc (Exim Bank) trong lĩnh vực viện trợ. Hơn nữa, với chính sách ‘Một Trung Quốc’, Trung Quốc luôn ưu tiên cấp viện trợ cho các nước Châu Phi đã thiết lập quan hệ ngoại giao, chấp nhận không đưa ra các điều kiện ràng buộc đối với viện trợ cho Châu Phi như các nước Mỹ và phương Tây vẫn thực hiện về quản lý năng lực chính phủ, minh bạch hóa hay các điều kiện khác. Viện trợ của Trung Quốc dành cho Châu Phi theo như thông báo là không kèm theo ràng  buộc chính trị gì, nhưng tự nó (theo cơ chế và các chủ thể viện trợ) đã thể hiện rằng, các nước Châu Phi trước hết phải là đối tác kinh tế gần gũi của Trung Quốc mới tiếp cận được các khoản viện trợ. Vì vậy, viện trợ của Trung Quốc dành cho Châu Phi tương đối khác với các khoản viện trợ phát triển của các nước OECD. OECD cho rằng, viện trợ phát triển chính thức là viện trợ ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và các thể chế đa phương chủ yếu vì mục đích thúc đẩy phúc lợi và phát triển kinh tế ở nước nhận viện trợ. Trung Quốc không phải là một thành viên của OECD và không tuân theo định nghĩa hay thực tiễn của tổ chức này về viện trợ phát triển. Phần lớn tài chính của Trung Quốc cung cấp cho Châu Phi thuộc thể loại tài chính phát triển mà không phải viện trợ. Chính phủ Trung Quốc luôn khuyến khích các cơ quan và các tổ chức thương mại kết hợp chặt chẽ giữa viện trợ nước ngoài, đầu tư trực tiếp, hợp đồng dịch vụ, hợp tác lao động, ngoại thương và xuất khẩu… nhằm mục đích tối đa hóa tính khả thi và tính linh hoạt của các dự án của Trung Quốc để đáp ứng thực tế địa phương ở nước tiếp nhận.

Kể từ FOCAC năm 2000, nguồn vốn viện trợ nước ngoài của Trung Quốc dành cho Châu Phi tăng rất nhanh. Ước tính trong giai đoạn 2000-2011, Trung Quốc đã có 1.673 dự án viện trợ cho khoảng 50 nước Châu Phi dưới nhiều hình thức viện trợ khác nhau, trong đó có ít nhất 62% các dự án (1.422 dự án) đã được thực hiện đúng cam kết, tổng trị giá 75,4 tỷ USD. Nếu như năm 2000, Trung Quốc có 48 dự án viện trợ cho Châu Phi, tổng số tiền là 2,4 tỷ USD thì năm 2010 Trung Quốc có khoảng 144 dự án viện trợ cho Châu Phi, tổng số tiền là 9,8 tỷ USD. Trong tổng số 1.673 dự án viện trợ của Trung Quốc dành cho Châu Phi, có khoảng 91% dự án được viện trợ bằng giá trị tiền mặt và chỉ có khoảng 9% dự án được thực hiện dưới hình thức trao đổi học giả, đào tạo giữa Trung Quốc và các nước Châu Phi.

Theo Sách trắng viện trợ nước ngoài của Trung Quốc năm 2011, viện trợ nước ngoài của Trung Quốc năm 2009 phân theo khu vực địa lý như sau: Châu Phi chiếm 45,7% tổng viện trợ nước ngoài của Trung Quốc, Châu Á chiếm 32,8%, Châu Mỹ Latinh và Caribe chiếm 12,7%, châu Đại Dương chiếm 4%, Châu Âu 0,3%, các vùng khác chiếm 4,5% [53]. Như vậy, Châu Phi chiếm gần một nửa trong tổng số tiền viện trợ nước ngoài của Trung Quốc năm 2009.

Xét theo lĩnh vực nhận viện trợ, trong giai đoạn 2000-2011, viện trợ của Trung Quốc ở Châu Phi tính theo giá trị tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực vận tải và kho bãi (khoảng 191 dự án với tổng số tiền viện trợ 16,673 tỷ USD); tiếp theo là lĩnh vực xây dựng các trạm năng lượng (69 dự án, tổng số tiền viện trợ 14,702 tỷ USD), xây dựng cộng đồng (77 dự án, 4,237 tỷ USD), nông lâm ngư nghiệp (95 dự án, 3,411 tỷ USD), thương mại và du lịch (34 dự án, 1,793 tỷ USD). Tính theo số lượng dự án, lĩnh vực nhận được viện trợ nhiều nhất là chính phủ và xã hội dân sự (191 dự án, 1,524 tỷ USD), sức khỏe (174 dự án, 983 triệu USD), giáo dục (136 dự án, 290 triệu USD).

Theo Sách trắng viện trợ nước ngoài của Trung Quốc năm 2014, trong giai đoạn 2010-2012, Trung Quốc đã xây dựng 14 trung tâm nghiên cứu công nghệ nông nghiệp và tiếp tục lập kế hoạch và xây dựng 8 trung tâm khác ở Châu Phi. Trung Quốc đã gửi khoảng 5000 chuyên gia nông nghiệp sang Châu Phi trong giai đoạn 2010-2012. Cũng trong giai đoạn này, Trung Quốc đã xây dựng 86 dự án cơ sở hạ tầng kinh tế ở Châu Phi, trong đó có dự án nổi tiếng như xây dựng tuyến đường sắt xuyên biên giới Tanzania – Zambia hoặc Trung tâm hội nghị AU. Tính đến năm 2012, Trung Quốc đã cử 43 đội y tế sang 42 nước Châu Phi, hỗ trợ xây dựng 30 bệnh viện và 30 trung tâm phòng chống sốt rét ở Châu Phi, cung cấp viện trợ 800 triệu NDT để mua máy móc thiết bị y tế phòng chống sốt rét và đào tạo khoảng 3000 chuyên gia y tế người Châu Phi. Tại các nước như Liberia, Ai Cập, Trung Quốc đã cung cấp các thiết bị y tế tiên tiến trong năm 2012. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, tính đến năm 2012 Trung Quốc đã xây 150 trường tiểu học và trung học ở Châu Phi, đào tạo khoảng 47.000 giáo viên các cấp cho Châu Phi. Năm 2012, Trung Quốc đã thực hiện Chương trình xây dựng nhân tài Châu Phi, trong đó giúp Châu Phi đào tạo 30.000 chuyên gia cho các ngành khác nhau và cung cấp khoảng 18.000 suất học bổng chính phủ để đào tạo nhân lực cho các nước Châu Phi trong 3 năm 2012-2015. Chỉ riêng năm 2012, đã có 6.717 suất học bổng chính phủ được Trung Quốc cung cấp cho các nước Châu Phi.

Xét theo nước tiếp nhận viện trợ của Trung Quốc, các nước Châu Phi nhận viện trợ nhiều nhất tính theo giá trị vốn là Ghana, Nigeria, Sudan, Ethiopia, Mauritania, Angola, Zimbabwe, Guinea xích đạo, Cameroon, Nam Phi. Mỗi nước này ít nhất nhận được 3% các dự án viện trợ nước ngoài của Trung Quốc cho Châu Phi trong giai đoạn 2000-2011. Hầu hết các nước tiếp nhận viện trợ nước ngoài của Trung Quốc đều nằm ở Đông Phi và Nam Phi, trong đó nước lớn nhất tính theo dự án là Zimbabwe (104 dự án), tiếp theo là Ghana (64 dự án), Liberia (59 dự án), Kenya (58 dự án), Sudan (55 dự án), Ethiopia (54 dự án). Nhìn chung, viện trợ nước ngoài của Trung Quốc cho những nước này là khá cao so với quy mô của nền kinh tế một số nước.

Chẳng hạn tại Ethiopia, , tháng 6/2009, chính phủ Trung Quốc hỗ trợ xây dựng bệnh viện Tirunesh Dibaba với quy mô hiện đại 6000 m2, gồm 100 giường bệnh tại Bắc Kinh. Các thiết bị y tế của bệnh viện cũng được Chính phủ Trung Quốc tài trợ xây dựng và cung cấp. Từ năm 2012, Trung Quốc đã gửi mười sáu đội y tế gồm 255 nhân viên tới Ethiopia. Năm 2012, Trung Quốc đã mở một bệnh viện trị giá 13 triệu USD  tại  Akaki,  nằm  ở  phía  nam  của  Addis  Ababa. Trung Quốc cũng đã xây dựng các trung tâm phòng chống sốt rét cùng các trung tâm trưng bày các sản phẩm nông nghiệp tại Ethiopia. Trung Quốc đã đóng góp để xây dựng các trường nghề, trường cao đẳng kỹ thuật, đồng thời cung cấp đội ngũ giáo viên, giảng viên tình nguyện ở các cấp học khác nhau.

Trung Quốc đã tài trợ 12 triệu USD cho một chương trình giáo dục và đào tạo kỹ thuật và dạy nghề. Trong chương trình tài trợ này có khoảng 90 giáo viên Trung Quốc đến Ethiopia năm 2007. Cùng năm đó, Trung Quốc gia tăng chương trình học bổng thường niên của mình cho người Ethiopia [60]. Năm 2014, Trung Quốc đã khánh thành Viện Khổng Tử tại Đại học Addis Ababa Ethiopia. Đây là một sự kiện văn hóa quan trọng cung cấp cơ hội cho những người trẻ tuổi ở Ethiopia học tiếng Trung Quốc, tăng cường cơ hội mở rộng giao lưu văn hóa, tăng cường sự hiểu biết giữa hai quốc gia.

Trong các dự án viện trợ điển hình của Trung Quốc tại Châu Phi, có thể  kể đến một số dự án sau: Dự án viện trợ để giảm nợ cho Ghana, trị giá 5,485 tỷ USD năm 2010; dự án viện trợ xây dựng cơ sở hạ tầng dầu mỏ ở Nigeria, trị giá 5,383 tỷ USD (năm 2006); dự án viện trợ xây dựng con đập thủy điện ở Ethiopia trị giá 2,2 tỷ USD (2009); dự án xây dựng tuyến đường sắt từ Khartum đến cảng Sudan ở Sudan, trị giá 1,377 tỷ USD (2007); dự án xây dựng nhà máy điện hồ Kariba (Zimbabwe, 2004), trị giá hơn 1 tỷ USD; dự án xây dựng đập thủy điện Merowe (Sudan, 2003) trị giá 836 triệu USD…

Phân theo nước cụ thể, Ghana là nước Châu Phi nhận viện trợ nước ngoài lớn nhất của Trung Quốc tính đến năm 2011. Viện trợ nước ngoài của Trung Quốc vào Ghana có lịch sử từ thập niên 1950, nhưng phải đến năm 2000 sau FOCAC lần thứ nhất tại Bắc Kinh, Ghana mới được Trung Quốc chú ý đến. Vào năm 2001, Trung Quốc viện trợ cho Ghana 3,6 triệu USD để phát triển kinh tế và những năm tiếp theo Trung Quốc tiếp tục viện trợ cho Ghana những khoản tiền trị giá vài triệu đến hàng chục triệu USD. Phải đến năm 2007, Ghana mới được Trung Quốc chú ý trọng điểm bằng dự án viện trợ xây dựng đập thủy điện Bui trị giá 662 triệu USD dưới hình thức tín dụng xuất khẩu. Đây là con đập được coi là lớn nhất Tây Phi, công suất lắp đặt 400 MW, được đánh giá là sẽ tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội của Ghana, đặc biệt trong lĩnh vực thủy lợi, nông nghiệp, đánh bắt cá và phát triển du lịch và các ngành khác. Kể từ năm 2007 đến nay, Trung Quốc tiếp tục viện trợ cho Ghana dưới nhiều hình thức như vay nợ, trợ cấp, trợ giúp kỹ thuật, trao đổi học giả, cho vay không lãi…, trong đó phải kể đến các dự án viện trợ khổng lồ như dự án cho vay 3 tỷ USD để phát triển các dự án dầu lửa và khí đốt (2009), xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng, giáo dục (2010), dự án xây dựng bệnh viện 100 giường bệnh ở Teshie trị giá 7,3 triệu USD (2011)…

Angola có một vị trí rất quan trọng trong chiến lược viện trợ nước ngoài của Trung Quốc. Sau nhiều năm nội chiến, Angola phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, trong đó có vấn đề về thiếu vốn phát triển. Tháng 3/2004, Trung Quốc chính thức bước chân vào Angola với gói cho vay để phát triển cơ sở hạ tầng trị giá 2 tỷ USD. Gói tín dụng này tăng lên gấp đôi vào năm 2006 và vào năm 2007 tăng thêm 500 triệu USD. Năm 2010 Ngân hàng Eximbank Trung Quốc công bố mở rộng gói vay nợ 6 tỷ USD cho Angola, nâng tổng số tiền vay nợ ngân hàng Eximbank của Angola lên 10,5 tỷ USD. Cùng với đó, Ngân hàng phát triển Trung Quốc (CDB) cũng cung cấp cho Angola gói vay nợ 1 tỷ USD để phát triển nông nghiệp. Tính đến năm 2010 Trung Quốc đã cho Angola vay khoảng vay tín dụng khoảng 14,5 tỷ USD.

Khác với hình thức viện trợ cho Ghana, Trung Quốc viện trợ cho Angola chủ yếu dưới hình thức vay tín dụng lãi suất thấp hoặc trợ cấp. Trong hình thức trợ cấp, Trung Quốc đã tiến hành xóa nợ trị giá 10 triệu USD cho Angola và cung cấp các khoảng viện trợ nhân đạo trị giá 1 triệu USD để cung cấp hàng hóa nông nghiệp cho tỉnh Malanje của Angola. Trong hình thức vay nợ, các khoản cho vay của Trung quốc đối với Angola được đánh giá là một hình thức viện trợ kiểu OOF bởi các khoản vay nợ của Trung Quốc không kèm theo bất cứ một áp đặt điều chỉnh cơ cấu nào như IMF vẫn áp dụng đối với các nước vay nợ. Hơn nữa, Trung Quốc cho Angola vay nợ không kèm theo lãi suất, đồng thời chấp nhận lấy nguồn tài nguyên theo giá thị trường của Angola làm giải pháp thanh toán nợ. Angola – với nguồn tài nguyên dầu lửa phong phú, đã sử dụng dầu lửa làm hình thức thanh toán nợ nần với Trung Quốc. Chính với phương thức này, Angola đã nhanh chóng trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc sau một loạt thỏa thuận đổi dầu lấy các khoản vay tín dụng của Trung Quốc. Năm 2009, có tới 39% lượng dầu mỏ xuất khẩu của Angola được chuyển sang thị trường Trung Quốc. Các khoản vay nợ của Angola từ Trung Quốc được sử dụng cho các lĩnh vực: giáo dục, y tế sức khỏe, năng lượng và nước, nông nghiệp, vận tải và một số lĩnh vực khác…Chính sách ‘đổi dầu lấy viện trợ’ của Trung Quốc ở Angola đã giúp Trung Quốc dành được quyền tiếp cận nguồn dầu của đất nước sản xuất dầu mỏ lớn thứ tư Châu Phi. Mới đây nhất, năm 2015

Trung Quốc đang thúc đẩy các thỏa thuận về việc giao 500.000 ha đất canh tác và nước ở Angola để đảm bảo 30% các khoản vay của nước này. Các mảnh đất này đều nằm ở tỉnh Kuando Kubango và được đánh giá là có rất nhiều khoáng sản trong lòng đất. Trong hơn bốn năm (2010-1015), Trung Quốc đã duy trì sự hiện diện ở tỉnh Kuando Kubango, chiếm khoảng 15.000 ha đất trong một dự án thử nghiệm trồng lúa