Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng chế biến chủ lực (Giầy dép)

Trong một thời gian dài, EU là thị trường xuất khẩu Da giầy lớn nhất của Việt Nam. Đến năm 2015, lần đầu tiên xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang thị trường Mỹ vượt qua EU. Tuy nhiên, mặt hàng giầy dép vẫn tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng và trụ cột của mình trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang thị trường EU, đặc biệt là khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã kết thúc đàm phán.

Thống kê từ phía EU cho thấy, k e từ năm 1996, trong số các nước xuất khẩu giầy dép nhiều nhất vào EU, Việt Nam đã xếp ở vị trí thứ 3. Hiện EU là thị trường xuất khẩu da giày lớn thứ hai của Việt Nam, sau Mỹ. Năm 2016, xuất khẩu da giầy của Việt Nam vào EU đạt gần 5 tỷ USD, trong đó mặt hàng giầy dép có kim ngạch xuất khẩu chiếm đa số khoảng 4,16 tỷ USD. Giầy da chất lượng cao và giầy the thao cho các thương hiệu của Mỹ và EU là những mặt hàng được Việt Nam chú trọng xuất khẩu vào EU. Trong đó, năm 2015, xuất khẩu sang thị trường Bỉ đạt giá trị lớn nhất với trên 720 triệu USD.

Vào tháng 10/2006, Ủy ban châu Âu (EC) đã ban hành quyết định áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm giầy mũ da nhập khẩu từ Việt Nam trong giai đoạn từ ngày 7/10/2006 đến 31/3/2011 với mức thuế áp dụng là 10%. Ngành da giầy rơi vào thời kỳ khó khăn. Đến năm 2010 và 2012, hai nhà nhập khẩu giày da của Anh và Đức đã yêu cầu cơ quan hải quan hoàn lại tiền thuế chống bán phá giá áp dụng với mặt hàng trên do lệnh áp thuế chống bán phá giá là không hợp lý. Cho đến đầu năm 2016, quyết định áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm giầy mũ da nhập khẩu từ Việt Nam bị vô hiệu một phần do Ủy ban châu Âu đã tiến hành điều tra và phát hiện thấy những điều không hợp lệ với quy định. Thực tế quyết định này đã có hiệu lực từ ngày 1/4/2011.

Hơn nữa, trong một thời gian khá dài, nguyên phụ liệu của doanh nghiệp da giầy Việt Nam chủ yếu đều phải nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu sang EU. Do đó, mặc dù kim ngạch xuất khẩu đạt ở mức cao nhưng hiệu quả kinh tế mang lại cho doanh nghiệp da giầy thấp, giá trị gia tăng chỉ chiếm 25%. Thêm vào đó, chiếm hơn một nửa các sản phẩm da giầy Việt Nam là gia công theo hình thức đơn đặt hàng cho các đối tác nước ngoài với chi phí nhân công thấp. Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam không xuất khẩu trực tiếp đến các nhà phân phối chính mà phần lớn qua hệ thống phân phối kinh doanh nước ngoài. Đây là điểm bất lợi đối với ngành da giầy của nước ta.

Ngành Da giầy Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để khẳng định, củng cố và tăng cường quan hệ thương mại với các thị trường lớn trên thế giới, trong đó có mở rộng thị phần ở thị trường EU. Tất cả các mặt hàng giầy dép của Việt Nam xuất khẩu vào EU được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập GSP (thuế suất giảm từ 13 – 14% xuống 3 – 4%) từ năm 2014. Chính nhờ điều kiện thuận lợi trên, xuất khẩu giầy dép sang thị trường EU đã tăng trưởng mạnh lên đến 20%. Tuy nhiên, đây là chương trình ưu đãi chỉ trong một thời gian nhất định và cùng với đó là những điều kiện đi kèm.

Với sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, ngành da giầy đã có những tiến bộ vượt trội. Hiện tại, tỷ lệ nội địa hóa của ngành đã đạt tới 55% và ngành đã đáp ứng tương đối tốt quy tắc xuất xứ. Các doanh nghiệp sản xuất đã có những cải cách về tiến độ và thời gian vận chuyển và giao hàng, chủ động trong khâu sản xuất, tăng cường phối hợp với các đối tác trong việc cung cấp nguyên vật liệu… để sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Một bộ phận doanh nghiệp có cách làm chủ động, khác hẳn so với cách làm gia công của phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép khác đó là họ gia công xuất khẩu được những sản phẩm của chính mình. Các doanh nghiệp hầu như tự quyết định hoàn toàn từ khâu chuẩn bị nguyên vật liệu, kiểm định chất lượng hàng hoá đến khâu cuối cùng để sản xuất những đôi giầy xuất khẩu.

Tuy rằng cơ hội mang lại là rất nhiều nhưng ngành da giày của Việt Nam vẫn đang đứng trước những thách thức không nhỏ khi tham gia vào các thị trường lớn.

Điều này do sản xuất gia công chiếm tỷ lệ cao đến 70% nên lợi nhuận thu được thấp và khiến doanh nghiệp bị hạn chế khả năng sáng tạo, năng động. Hơn nữa, các hàng rào kỹ thuật từ phía EU cũng như các yêu cầu về trách nhiệm xã hội, an toàn, môi trường và tuân theo các thủ tục để được hưởng lợi thuế từ FTA sẽ làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp.

Da giày là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt Nam song phần xuất khẩu lại chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo số liệu của Hiệp hội Da – Giày – Túi xách Việt Nam, khối doanh nghiệp FDI ngày càng đóng góp nhiều trong tỷ trọng xuất khẩu toàn ngành (năm 2013 là 75%, năm 2015 tăng lên 78% và năm 2016 con số này là 80%). Sở dĩ là do các doanh nghiệp này nâng công suất và xây dựng các nhà máy sản xuất mới ở Việt Nam đ đón cơ hội hưởng lợi từ việc giảm thuế quan trong các hiệp định thương mại tự do. Ngược lại, xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước có chiều hướng giảm, từ tỷ trọng chiếm 25% năm 2013 xuống còn 19,2% năm 2016. Điều này là do các doanh nghiệp trong nước có những khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn và thị trường nên khả năng cạnh tranh kém.

Theo Hiệp hội Da – Giày – Túi xách Việt Nam, ngành da giày nước ta còn nhiều điểm yếu như tình trạng thiếu vốn, công nghệ, nguồn nhân lực cao cấp, năng lực lãnh đạo và năng suất lao động thấp. So với năng suất của các doanh nghiệp FDI hoạt động tại Việt Nam, năng suất trung bình của lao động làm việc tại các nhà máy da giày Việt Nam chỉ bằng khoảng 60% đến 70%.

Nếu ngành dệt may vấp phải khó khăn do quy tắc xuất xứ “từ vải trở đi” thì trong EVFTA lại cho phép các doanh nghiệp da giầy Việt Nam được sử dụng nguyên liệu nhập khẩu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, chỉ quy định từ các khâu giặt, may, lắp ráp, đóng gói sản phẩm là yêu cầu phải thực hiện ở Việt Nam.

Đã đạt được các mục tiêu đặt ra đối với ngành da giày trong những năm tiếp theo, Việt Nam cần phải biết tranh thủ tối đa mọi lợi thế mà các FTA thế hệ mới mang lại cho Việt Nam, đặc biệt là EVFTA. Theo đó, nhằm đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ trong các FTA thì tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất phải đạt mức 60%. Cụ thể, doanh nghiệp phải chủ động được nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng các vấn đề về tiêu chuẩn môi trường, lao động, an toàn, nâng cao tự động hóa quá trình sản xuất và tạo ra những sản phẩm đặc thù.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần chủ động trong chuỗi liên kết nội địa, phát triển thị trường trong nước, tránh sự bị động, sản xuất theo chỉ định của đối tác khi tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu.