Thuế quan là gì?

Thuế quan là một loại thuế đánh lên hàng nhập khẩu (hoặc xuất khẩu). Thuế quan có hai loại: Thuế đặc định (thuế theo lượng – specific tariff) được tính bằng một khoản cố định trên mỗi đơn vị hàng hóa nhập khẩu (ví dụ 3 đôla Hoa Kỳ đối với mỗi thùng dầu thô); Thuế theo giá trị (Ad-valorem tariff) được tính theo tỷ lệ dựa trên giá trị của hàng nhập khẩu. Trong hầu hết các trường hợp, thuế quan đánh trên hàng nhập khẩu nhằm để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh từ nước ngoài bằng cách làm tăng giá bán của hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, thuế quan cũng mang lại nguồn thu cho Chính phủ. Cho tới khi thuế thu nhập được áp dụng, ngân sách của chính phủ Hoa Kỳ được đóng góp chủ yếu bởi thuế quan.

Một điều quan trọng để hiểu rõ về thuế quan là xem xét ai được lợi và ai chịu thiệt khi sử dụng công cụ này. Chính phủ sẽ là người được lợi vì thuế quan mang lại thu nhập cho ngân sách Chính phủ. Các nhà sản xuất trong nước cũng sẽ là những người được lợi bởi vì thuế quan sẽ làm tăng chi phí của hàng hóa nước  ngoài nhập khẩu. Người tiêu dùng là người chịu thiệt bởi vì họ phải trả tiền nhiều hơn cho những hàng hóa nhập khẩu nhất định. Ví dụ, vào tháng 3 năm 2002, Chính phủ Hoa Kỳ đã áp đặt một khoản thuế theo giá trị với mức thuế từ 8 đến 30% lên các mặt hàng thép nhập khẩu từ bên ngoài. Mục đích của việc này là nhằm bảo vệ các nhà sản xuất thép trong nước khỏi sự cạnh tranh của thép nhập khẩu giá rẻ. Tuy nhiên, tác động của việc này đã làm tăng giá thép và sản phẩm thép tại Hoa Kỳ từ 30 đến 50%. Một số người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thép của Hoa Kỳ, bao gồm từ những nhà chế tạo thiết bị tới các hãng sản xuất ô tô, đã phản đối việc áp dụng trên và cho rằng thuế quan đánh trên thép nhập khẩu sẽ làm tăng chi phí sản xuất của họ khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc cạnh tranh trên thị trường thế giới. Trong từng trường hợp lợi ích thu về của chính phủ và các nhà sản xuất nội địa lớn hơn hay nhỏ hơn thiệt hại của người tiêu dùng phụ  thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau như mức độ đánh thuế, mức độ quan trọng của hàng nhập khẩu đối với người tiêu dùng trong nước, số lượng việc làm được giữ lại trong ngành được bảo hộ, v.v…. Trong trường hợp  của ngành thép kể trên, nhiều người cho rằng thiệt hại của người tiêu dùng vượt xa những lợi ích mà những người sản xuất thu được. Vào tháng 11 năm 2003, WTO đã ra tuyên bố rằng mức thuế mà Hoa Kỳ đánh vào thép nhập khẩu đã vi phạm các nguyên tắc của WTO, và do vậy chính phủ Hoa Kỳ đã bãi bỏ thuế này vào tháng 12 cùng năm.

Một cách tổng quát, phân tích về kinh tế đã rút ra hai kết luận về tác động của thuế quan đối với hàng nhập khẩu. Đầu tiên, thuế quan rõ ràng phục vụ lợi ích của các nhà sản xuất trong nước và không có lợi cho người tiêu dùng. Trong khi thuế quan bảo vệ người sản xuất khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, thì hạn chế về lượng cung cũng đồng thời làm tăng giá cả trong nước. Ví dụ, theo một nghiên cứu các nhà kinh tế học Nhật Bản đã tính toán rằng việc đánh thuế lên các hàng hóa như thực phẩm, Hoa Kỳ phẩm, và các hóa phẩm khác nhập khẩu vào Nhật Bản khiến cho một người tiêu dùng nước này phải trả thêm hàng năm một khoản tiền tương đương 890 đôla Hoa Kỳ do giá cả tăng lên. Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy thuế nhập khẩu làm cho người tiêu dùng phải chịu một khoản chi phí đáng kể do mức giá cả của hàng hóa tăng lên.

Thứ hai, thuế nhập khẩu làm giảm hiệu quả tổng thể của toàn bộ nền kinh tế bởi vì khoản thuế này sẽ khuyến khích các công ty nội địa sản xuất những sản phẩm mà theo lý thuyết có thể được sản xuất một cách hiệu quả hơn ở nước ngoài. Kết quả dẫn đến các nguồn lực không được sử dụng một cách hiệu quả. Ví dụ tại Hàn Quốc, thuế đánh lên gạo nhập khẩu đã kéo theo sự gia tăng sản xuất gạo tại nước này, tuy nhiên, trồng lúa gạo ở đây lại là một cách sử dụng không có hiệu nguồn quả đất đai. Nếu Hàn Quốc mua gạo từ các các nước có chi phí thấp hơn và tận dụng đất đai có được để làm những việc khác, ví dụ như trồng các loại thực phẩm vốn không thể được trồng hiệu quả hơn ở các nước khác hoặc dùng làm đất thổ cư hoặc các mục đích công nghiệp khác thì sẽ có ý nghĩa hơn nhiều.

Đôi khi thuế quan cũng được đánh lên hàng xuất khẩu của một nước tuy nhiên thuế xuất khẩu rất ít khi được sử dụng so với thuế nhập khẩu. Nhìn chung, thuế xuất khẩu có hai mục tiêu: đầu tiên là để mang lại nguồn thu cho ngân sách chính phủ, và thứ hai là để giảm khối lượng xuất khẩu của một ngành, thường vì các lý do chính trị. Ví dụ, vào năm 2004, Trung Quốc áp đặt một mức thuế lên hàng dệt may xuất khẩu. Mục đích cơ bản của việc này là giảm bớt tốc độ tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc, từ đó là giảm căng thẳng với các đối tác thương mại khác.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • thuế quan là gì
  • các loại thuế quan
  • thuế quan
  • ,