Tiến bộ khoa học công nghệ ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn thành phố Hà Nội

Kỹ thuật – công nghệ là nhân tố ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến doanh nghiệp. Các nhân tố kỹ thuật, công nghệ thường biểu hiện qua các phương pháp sản xuất mới, kỹ thuật mới, vật liệu mới, thiết bị, dây chuyền, công nghệ sản xuất, các bí quyết, các phát minh, phần mềm ứng dụng… Khi công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng các thành tựu của công nghệ để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao hơn nhằm phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc áp dụng thành tựu mới của khoa học, công nghệ trong các ngành hỗ trợ, ảnh hưởng có tính chất “dẫn dắt” phát triển sản xuất công nghiệp, nhờ tạo ra những chi tiết, bộ phận hoặc vật liệu mới góp phần tạo ra sự thay đổi căn bản trong thiết kế và chế tạo sản phẩm.

Quá trình áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ sẽ giúp các doanh nghiệp ngành CNHT tiết kiệm thời gian, chi phí sản xuất, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, tăng tỷ lệ nội địa hóa, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, hoặc tương tương với sản phẩm cùng loại của nước ngoài… đáp ứng được yêu cầu của các nhà lắp ráp, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất cũng sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho những sản phẩm hỗ trợ, cũng như sản phẩm cuối cùng của một quốc gia.

Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc phát triển CNHT một cách bài bản, góp phần thúc kinh tế phát triển là vấn đề tiên quyết đối với các quốc gia.Các doanh nghiệp khi sản xuất các linh kiện, phụ tùng không chỉ dựa vào nhu cầu của những nhà lắp ráp nội địa, mà cần chủ động, nắm bắt nhu cầu của các công ty lắp ráp nước ngoài, tham gia vào cung ứng sản phẩm cho các công ty đó. Ngày nay, không một doanh nghiệp lớn mạnh nào trên thế giới thực hiện quy trình sản xuất khép kín theo mô hình tích hợp chiều dọc, từ sử dụng nguyên vật liệu sơ chế để sản xuất kinh kiện, phụ tùng cho đến khâu lắp ráp, mà phải thực hiện tại các vệ tinh, chi nhánh khác nhau trong cùng mạng lưới hoặc mua từ các doanh nghiệp CNHT khác ngoài mạng lưới. Ví dụ, sản xuất máy bay Boeing và xe ô tô Ford là những trường hợp điển hình.

Từ trên có thể thấy, tác động của hội nhập quốc tế đối với CNHT của các quốc gia là: mở rộng thị trường, tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư sản xuất, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của sản phẩm CNHT; nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học, công nghệ quốc gia thông qua FDI và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến; đa dạng về chủng loại, mẫu mã, chất lượng với giá cạnh tranh …và được tiếp cận, giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài.

Trong xu thế toàn cầu, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng; đưa chất lượng sản phẩm vào nội dung quản lý. Sản phẩm CNHT có vai trò quan trọng trong chất lượng của mỗi sản phẩm, nó quyết định giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lắp ráp thường yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm đối với nhà cung cấp nội địa. Chỉ khi sản phẩm đạt được tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh, sản phẩm có khả năng tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu thuộc các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông, thúc đẩy phát triển mạnh CNHT.