Tính chất người dùng, Tính chất dự án và Sự hỗ trợ của nhà quản lý

Theo nghiên cứu của Stacie Petter và cộng sự (2013) như đã trình bày ở trên; có nhiều thành phần ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống thông tin. Tuy nhiên, như đã phân tích ở các phần trên, không phải tất cả đều có tác động mạnh và có ý nghĩa đến các thành phần của mô hình hệ thống thông tin thành công của DeLone và McLean (1992,2003). Các thành phần có tác động mạnh, có ý nghĩa và đã được nghiên cứu (Dezdar, 2012; Dezdar & Ainin, 2011a, 2011b) bao gồm: Tính chất người dùng, Tính chất dự án và Sự hỗ trợ của nhà quản lý.

Với đơn vị phân tích là cá nhân, tính chất người dùng bao gồm các thành phần thuộc về tri thức, thái độ, niềm tin, kinh nghiệm sẽ tác động đến chất lượng hệ thống thông tin cũng như ý định sử dụng hệ thống. Các nghiên cứu ứng dụng mô hình TAM cũng cho thấy thái độ, hành vi và kinh nghiệm tác động đến ý định sử dụng hệ thống thông tin. Đồng thời, mô hình TAM2, TAM3 và các mô hình mở rộng của TAM cho thấy, nhận thức về tính hữu ích và nhận thức về tính dễ sử dụng chịu tác động bởi kinh nghiệm, tri thức của người dùng, tính chất phức tạp của dự án cũng như sự hỗ trợ của các nhà quản lý (Venkatesh, 2000; Venkatesh & Bala, 2008; Venkatesh & Davis, 1996; Venkatesh và cộng sự 2003).

Tính chất người dùng bao gồm Tri thức và kinh nghiệm của người dùng hệ thống thông tin. Trong nghiên cứu của luận án này, tính chất người dùng được xây dựng là khái niệm nghiên cứu bậc 2 với 2 thành phần bậc 1 là Tri thức và kinh nghiệm. Các nghiên cứu ứng dụng TAM cho thấy khi người sử dụng có kiến thức và kinh nghiệm về hệ thống thông tin, thì nhận thức hệ thống thông tin đó dễ sử dụng – ví dụ nghiên cứu của Bravo và cộng sự (2015); do đó, tính chất người dùng sẽ có tác động đến nhận thức về tính dễ sử dụng của hệ thống thông tin và tác động đến sự thành công của hệ thống thông tin (Edgardo R Bravo, Santana, & Rodon, 2015; Dadbin, Gholami, Hanafizadeh, & Standage, 2010).

Tính chất dự án theo Stacie Petter và cộng sự (2013) bao gồm sự tham gia của người dùng và sự hỗ trợ bên ngoài đối với dự án. Khái niệm Tính chất dự án được mô hình hoá là khái niệm bậc 2 với thành phần bậc 1 là sự tham gia của người dùng và sự hỗ trợ bên ngoài. Khi người sử dụng được tham gia từ đầu vào dự án xây dựng – phát triển hệ thống thông tin và được hỗ trợ tốt thì sẽ nhận thức hệ thống thông tin hữu ích (Choe, 1996, 1998). Nghiên cứu của Amoako (2007) cho thấy sự tham gia của người sử dụng

– bao gồm tham gia theo tình huống và tham gia thường trực tác động tích cực đến nhận thức về tính hữu ích của hệ thống thông tin và hành vi sử dụng hệ thống (Amoako- Gyampah, 2007). Sự hỗ trợ từ các đối tác bên ngoài cung cấp giải pháp thông qua việc huấn luyện, truyền thông, hỗ trợ giúp cho người sử dụng cảm nhận tính hữu ích của hệ thống thông tin (B. Y. Chung và cộng sự 2008; Costa, Ferreira, Bento, & Aparicio, 2016). Do đó, tính chất dự án có ảnh hưởng đến nhận thức về tính hữu ích của hệ thống thông tin và tác động đến sự thành công của hệ thống thông tin.

Việc nhận được sự hỗ trợ từ các nhà quản lý cấp cao trong doanh nghiệp, sẽ giúp người sử dụng nhận thức về tính hữu ích của hệ thống thông tin (Costa và cộng sự 2016; Magid Igbaria, Zinatelli, Cragg, & Cavaye, 1997) và đồng thời các nghiên cứu cũng cho thấy hệ thống thông tin thành công luôn có sự hỗ trợ từ các nhà quản lý (Kulkarni và cộng sự 2006).

Theo Stacie Petter và cộng sự (2013), tính chất tác vụ có tác động đến các thành phần của mô hình hệ thống thông tin thành công. Tính chất tác vụ là nhóm biến độc lập liên quan đến các tác vụ được hỗ trợ bởi một hệ thống thông tin. Tác vụ nói chung là các hoạt động hỗ trợ trong một đơn vị, được hệ thống thông tin giúp đỡ nhằm tăng cường việc hoàn thành nhiệm vụ. Trong ngữ cảnh hệ thống thông tin kế toán, tác vụ ở đây chính là các nhiệm vụ kế toán được hỗ trợ bởi phần mềm kế toán. Nghiên cứu của Stacie Petter và cộng sự (2013) cho thấy các thành phần của tính chất tác vụ bao gồm: (1) Sự phù hợp của tác vụ không tác động đến chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống và chất lượng dịch vụ; sự phù hợp của tác vụ nên được cân nhắc xem xét ảnh hưởng cá nhân, sử dụng và sự hài lòng như là biến phụ thuộc; (2) độ khó tác vụ tác động ngược chiều đến sự thành công của hệ thống thông tin, với mức độ tác động trung bình – độ khó tác vụ tác động đến các biến phụ thuộc như sự hài lòng, ảnh hưởng cá nhân; (3) tầm quan trọng của tác vụ được kỳ vọng tác động đến việc sử dụng hệ thống và ảnh hưởng cá nhân, ảnh hưởng tổ chức – nhưng có quá ít nghiên cứu cũng như kết quả nghiên cứu không rõ ràng. Kết hợp với nhận định hệ thống thông tin kế toán đương nhiên phải được vận hành trong một tổ chức, nên nhóm biến liên quan đến tính chất tác vụ không được đề xuất như là một nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống thông tin kế toán. Như vậy, tính chất người dùng, tính chất dự án và sự hỗ trợ của nhà quản lý có tác động đến nhận thức của người sử dụng, tác động đến việc sử dụng hệ thống thông tin và tác động đến sự thành công của hệ thống thông tin nói chung hay hệ thống thông tin kế toán. Các tác động này bao gồm tác động trực tiếp và tác động gián tiếp thông qua trung gian nhận thức của người sử dụng. Bảng 2.5 trình bày tóm tắt các nhân tố tác động đến sự thành công của hệ thống thông tin kế toán. Các nhân tố này được tổng hợp từ lý thuyết nền và các nghiên cứu đi trước.