Tính hiệu quả và công bằng trong VTHKCC bằng xe buýt

1 Hiệu quả trong VTHKCC bằng xe buýt

Hiệu quả được hiểu cách cơ bản nhất là tạo ra kết quả như mong muốn hay là theo như dự định ban đầu, mà không gây lãng phí, tận dụng được các nguồn lực cách tối ưu. Ngoài ra, hiệu quả còn là sự đánh giá bản chất thực hiện và qua đó xác định ảnh hưởng và lợi ích đạt được.

Nói tới vấn đề hiệu quả kinh tế thì các chính sách công còn quan tâm tới hiệu quả xã hội khi chính sách đó được đưa vào thực tế. Từ thực tiễn việc cung cấp dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt trong nội thành thành phố mà tiêu biểu là Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm mong muốn thông qua việc phân tích xem lợi ích thực tế mà người dân nhận được từ việc đi lại bằng xe buýt khi Chính phủ thực hiện trợ giá, và bao nhiêu người (phần trăm cá nhân) sẽ thay thế việc sử dụng các phương tiện giao thông khác khi có xe buýt. Việc trợ giá cho vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt có là lãng phí ngân sách nghiêm trọng so với kết quả đạt được? Liệu vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt có phải là một hàng hóa cần thiết mà Chính phủ cần cung cấp cho xã hội hay không?

2 Công bằng trong VTHKCC bằng xe buýt

Công bằng xã hội mang tính thực chứng, nên tùy theo quan điểm của mọi người nên có hai khái niệm về công bằng xã hội.

  • Công bằng ngang (horizontal equality): là sự đối xử như nhau với những người có tình trạng kinh tế như nhau. Theo khái niệm này, tình trạng kinh tế như nhau được xét thông qua các tiêu chí như thu nhập, hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc… thì chính sách của Chính phủ không được phép phân biệt đối xử.
  • Công bằng dọc (vertical equality): là đối xử như nhau với những người có khác biệt bẩm sinh hoặc tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có. Những người chịu tác động từ Chính phủ phải được giảm bớt hoặc xóa bỏ những khác biệt ban đầu.

Do đó, công bằng trong VTHKCC bằng xe buýt cũng thể hiện theo hai khái niệm trên:

  • Công bằng ngang trong VTHKCC bằng xe buýt là mọi người dân đều được sử dụng phương tiện công cộng này không phân biệt đối xử là giàu hay nghèo, tôn giáo, hoàn cảnh gia đình, dân tộc…
  • Công bằng dọc trong VTHKCC bằng xe buýt thể hiện là Chính phủ thực hiện ưu tiên cho học sinh – sinh viên hơn so với các đối tượng khác khi đi xe buýt, mặc dù học sinh – sinh viên là đối tượng được hưởng nhiều trợ cấp thu nhập khác. Điều này nhằm đạt được công bằng xã hội trong phân phối thu nhập.

3 Hiệu quả và công bằng trong VTHKCC bằng xe buýt

Khi nói đến mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng thì có hai quan điểm sau:

  • Quan điểm thứ nhất cho rằng giữa hiệu quả và công bằng có mâu thuẫn, có nghĩa là nếu ưu tiên hiệu quả thì phải chấp nhận bất công và ngược lại nếu muốn cải thiện công bằng thì phải hy sinh hiệu quả.
  • Quan điểm thứ hai, cho rằng hiệu quả và công bằng không có mâu thuẫn tức là không nhất thiết phải có sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng.

Trên lí thuyết, VTHKCC bằng xe buýt đạt hiệu quả khi phục vụ đúng tuyến, đúng đối tượng, thời gian lưu hành trong tuyến nhỏ. Các hành khách khi sử dụng VTHKCC bằng xe buýt đều được hưởng lợi ích như nhau, không có sự phân biệt giữa các hành khách. Do đó, hiệu quả và công bằng không có mâu thuẫn với nhau.

Nhưng trên thực tế, VTHKCC bằng xe buýt không những chỉ mang lợi ích cho chính người sử dụng mà còn tạo ra lợi ích ngoại biên tích cho những đối tượng không sử dụng phương tiện này (như là việc khi một số người chuyển từ việc sử dụng phương tiện khác như xe máy, xe đạp bằng đi xe buýt thì làm giảm lượng xe lưu thông, làm giảm ùn tắc, giúp những người khác dù không đi xe buýt vẫn hưởng được lợi ích…). Vậy VTHKCC bằng xe buýt là ngoại tác tích cực tức là tạo ra lợi ích cho bên thứ ba (không phải người mua cũng không phải người bán) và lợi ích đó cũng  không phản ánh trong giá vé bán.

Trong thị trường khi xuất hiện ngoại tác tích cực thì luôn tạo ra một mức sản lượng nhỏ hơn mức sản lượng tối ưu xã hội:

–        Đối với hành khách: đi lại với chi phí thấp, nhận được sự thỏa mãn cao hơn chi phí phải bỏ ra so với mức giá trên các tuyến.

–        Đối với Chính phủ: nâng cao năng lực quản lí nhà nước trong việc giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông trong nội thành thành phố, đảm bảo và duy trì mức giá phù hợp với thu nhập và nhu cầu đi lại của người dân.

–        Đối với xã hội: giảm ô nhiễm môi trường, giảm lượng khí thải, giảm lưu lượng xe tham gia giao thông trong giờ cao điểm nên góp phần bảo vệ sức khỏe người dân, của môi trường, giảm chi phí xây dựng đường xá do tăng lượng phương tiện khác.

–        Đối với kinh tế: tiết kiệm chi phí cho toàn xã hội ( đầu tư cho phương tiện, thời gian,nhiên liệu, sức khỏe bị lãng phí do ùn tắc gây ra…).