Tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 – 2011

Giai đoạn 2008 – 2011, nền kinh tế Việt Nam tuy có những khó khăn, thách thức và biến cố xảy ra nhưng bên cạnh đó cũng thu được những thành tựu đáng ghi nhận.
+ Đưa nền kinh tế nước ta từ nghèo nàn, lạc hậu, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế công nghiệp tiên tiến ứng dụng khoa học công nghệ ở trình độ cao.
+ Phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Cụ thể như sau: Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 là 11% tăng 6,23% so với năm 2007, năm 0,91% so với năm 2008. Năm 2010, hơn 2 năm sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Việt Nam đã đạt được 2009 là 5,32% giảm mức tăng trưởng ổn định, qua đó đã củng cố địa vị của Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương và đạt được vị thế quốc gia có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người đạt khoảng 1.200 USD. Hình 1 cho thấy có sự cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41%. Ước tính GDP cả năm 2010 tăng 6,78%, tăng hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%) la 0,28%. Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành công. Với kết quả này tốc độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 7%/năm và thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 1.160 USD.

Những tháng đầu năm 2011, Việt Nam tiếp tục đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao với mức 5,43% trong 3 tháng đầu năm và 6 tháng đầu năm ước đạt 5,6%.
Các chỉ số tăng trưởng cho các ngành cũng thể hiện một xu hướng phục hồi rõ rệt. Công nghiệp tiếp tục là đầu tàu của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 17,2% tăng 14% so với cùng kỳ năm 2009. So với khu vực công nghiệp thì khu vực dịch vụ cũng có sự phục hồi nhanh chóng đáng kể, tốc độ tăng trưởng đạt 7,5% tăng 0,78% so với năm 2009. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, năm 2010 gặp nhiều khó khăn: đầu năm hạn hán nghiêm trọng, giữa năm nắng nóng gay gắt, cuối năm mưa lũ lớn kéo dài ở miền Trung và Tây Nguyên. Những khó khăn này đã gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất vụ mùa, nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi. Tuy nhiên, do thực hiện nhiều chính sách và giải pháp hỗ trợ hộ nông dân và các doanh nghiệp về vốn, vật tư, tiêu thụ kịp thời, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm đã tăng 2,89% so với cùng kỳ năm 2009, ước cả năm 2010 tăng 2,8%.

Tuy nhiên, bên cạnh sự phục hồi và tăng trưởng thì nền kinh tế nước ta cũng gặp không ít khó khăn. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), lượng ngoại tệ ồ ạt đổ vào trong những năm 2007 – 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và sự bất ổn định của thị trường ngoại tệ cùng với việc phụ thuộc quá vào mức tăng trưởng nhờ đầu tư, đã đặt ra các thách thức cho việc quản lý nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là việc kiểm soát lạm phát. 4 tháng đầu năm 2011, tỷ lệ lạm phát lên mức cao, lên đến 13,95%, vượt xa chỉ tiêu 7% cho cả năm do Quốc hội đề ra.

Việt Nam đang phải đối mặt với các áp lực lạm phát lớn hơn nhiều so với nhiều khu vực trên thế giới. Giá thực phẩm, chi phí vận tải và nhà ở gia tăng là một trong nhiều nguyên nhân khiến lạm phát tăng cao. Theo một số ý kiến, trong thập kỷ qua, Việt Nam đã có mức lạm phát cao nhất trong khu vực và trên thế giới. Liên hợp quốc tại Việt Nam cho rằng, nguyên nhân của hiện tượng này một phần do các yếu tố nội tại, như các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam dành ưu tiên cho việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng cao hơn là đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Việc sử dụng chính sách tiền tệ và tài chính còn lỏng lẻo trong một thời gian dài đã có những tác động tiêu cực đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô và dẫn đến những giai đoạn lạm phát cao lặp đi lặp lại, kể cả những tháng đầu năm 2011. Vì vậy, Chính phủ đang nỗ lực kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Việc giảm đầu tư cho những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả là một dấu hiệu tích cực. Tuy vậy, cần có những hành động quyết liệt hơn trong việc cắt giảm các chương trình đầu tư công có quy mô lớn nhưng chưa cần thiết, trong đó có những chương trình do doanh nghiệp nhà nước thực hiện. Bên cạnh đó, cũng cần phải củng cố hệ thống đánh giá quốc gia các dự án đầu tư công, dựa trên các tiêu chí minh bạch để đảm bảo thu được lợi ích kinh tế, đánh giá các tác động xã hội, bảo vệ môi trường và khả năng chống biến đổi khí hậu.