Tình hình việc làm trong giai đoạn 2006-2018

Năm 2016, mặc dù những khó khăn, bất ổn của kinh tế vẫn tiếp diễn và thậm chí tăng trưởng kinh tế đã chậm lại so với năm 2015 (6,21% so với 6,68%), tăng trưởng việc làm đã được cải thiện, đạt 0,88% (so với 0,18% năm 2015) và đạt 53,3 triệu lao động có việc làm.

 Nhìn tổng thể cả giai đoạn 2006-2016, tốc độ tăng trưởng việc làm bình quân đạt 1,93%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng LLLĐ (1,9%/năm trong cùng giai đoạn), đã góp phần giảm sức ép việc làm trong nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế đạt mức bình quân 5,99%/năm trong giai đoạn này đã góp phần duy trì khả năng tạo việc làm của nền kinh tế – hệ số co giãn việc làm theo tăng trưởng kinh tế đạt mức 0,32 (tức là tăng trưởng kinh tế tăng thêm 1% thì tăng trưởng việc làm tăng thêm 0,32%) trong cả giai đoạn. Tuy nhiên, vài năm gần đây, khả năng tạo việc làm của nền kinh tế đã giảm, hệ số này chỉ còn 0,15 trong giai đoạn 2013-2016.

Theo nhóm 3 nhóm ngành kinh tế, năm 2016, cả nước có 22,31 triệu lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp, chiếm 41,86% tổng số lao động có việc làm; 13,2 triệu lao động làm việc trong khu vực công nghiệp, chiếm 24,76%; 17,79 triệu lao động làm việc trong khu vực dịch vụ, chiếm 33,37%.

Đáng chú ý, trong mấy năm gần đây, cơ cấu lao động theo ngành đã có sự chuyển dịch nhanh hơn. Tỷ lệ lao động ngành nông nghiệp đã giảm gần 1,7 điểm phần trăm mỗi năm trong giai đoạn 2013-2016 (so với mức giảm 1,1 điểm phần trăm mỗi năm trong giai đoạn 2006-2012). Đặc biệt, năm 2016, có gần 950 nghìn lao động được rút ra khỏi khu vực nông nghiệp (-4,07%), trong khi khu vực công nghiệp tăng khá, hơn 1,3 triệu lao động (10,93%) và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, 106 nghìn lao động (0,6%) so với năm 2015.

Theo nhóm nghề, năm 2016, số lao động làm trong nhóm nghề lao động giản đơn là 20,25 triệu người, chiếm 37,99% tổng số lao động có việc làm của nền kinh tế; công nhân kỹ thuật (bao gồm lao động có kỹ thuật trong nông nghiệp, thợ thủ công, thợ lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị) có 17,22 triệu người, chiếm 32,31%; lao động làm trong các nghề nhân viên văn phòng, nhân viên làm dịch vụ cá nhân, bảo  vệ làm có 9,85 triệu người, chiếm 18,49%. Trong khi, số lao động làm các công việc thuộc nhóm nghề lãnh đạo, CMKT bậc trung, bậc cao chiếm tỷ lệ thấp – nhóm nghề “các nhà lãnh đạo trong các ngành, các cấp và các đơn vị” có 555 nghìn người, chỉ chiếm 1,04% trong tổng số lao động có việc làm; nhóm nghề CMKT bậc cao chỉ có 3,66 triệu người, chiếm 6,86%; nhóm nghề CMKT bậc trung có 1,64 triệu người, chiếm 3,08%.

Cơ cấu việc làm theo nghề đang dần được cải thiện, trong giai đoạn 2007- 2016, lao động làm trong nhóm nghề lao động giản đơn đã giảm về quy mô (- 2,68%/năm) và tỷ lệ (- 2,7 điểm phần trăm/năm), tiếp đến là các nhà CMKT bậc trung cũng giảm nhẹ (-1,31%/năm). Thợ có kỹ thuật lắp ráp và vận hành MMTB (11,63%); Lao động có kỹ thuật trong nông lâm thủy sản (10,3%); nhóm CMKT bậc cao (7,43%/năm); nhóm nhân viên văn phòng (7,56%) và nhóm CNKT (5,86%). Do đó, đã làm cho tỷ trọng của các nhóm nghề này trong cơ cấu việc làm chung cũng tăng, phản ánh sự vận động tích cực của thị trường lao động theo hướng chuyển dịch của nền kinh tế, tạo đà tăng lao động dịch vụ và chuyên môn kỹ thuật.

Như vậy, có thể thấy nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian qua đã có những bước tăng trưởng đáng kể với GDP liên tục giữa đà tăng. Chuyển dịch nền kinh tế cũng đã theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng đóng góp vào GDP của ngành dịch vụ và giảm tỷ trọng của nông nghiệp. Theo chuyển dịch của nền kinh tế, việc làm của Việt Nam cũng đã có bước chuyển dịch theo hướng tăng việc làm trong ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm việc làm trong ngành nông nghiệp. Việc di chuyển này đã có những tác động tích cực và làm thay đổi cơ cấu ngành nghề theo hướng tăng lao động có kỹ thuật và chuyên môn trên thị trường.