Tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam qua các giai đoạn

Hoạt động xuất khẩu lao động đến nay đã được hơn hai mươi năm  (tính từ tháng 1 năm 1980 đến nay ) có thể chia quá trình hoạt động xuất khẩu lao động làm hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu là hợp tác lao động nhằm giải quyết việc làm và đào tạo tay nghề cho người lao động (NQ362/CP-29/11/1980), sau đó là mở rộng hợp tác với nước ngoài, coi nhiệm vụ kinh tế là quan trọng nhằm tăng nguồn thu  ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước, giải quyết việc làm, nâng cao tay nghề và thu nhập cho người lao động (CT108/ HĐBT- ngày 30/ 06/1988).

Và hiện nay là mở rộng và đa dạng hoá hình thức thị trường xuất khẩu, coi xuất khẩu lao động như một hoạt động kinh tế – xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình  độ nghề nghiệp cho người lao động, tăng nguồn thu nhập cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới.

a) Giai đoạn hợp tác lao động với nước ngoài ( 1980 – 1990 )

Để thực hiện hợp tác lao động với nước ngoài, thời kỳ này Nhà nước ta đã ký hiệp định Chính phủ về hợp tác lao động với bốn nước: Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Bungari. Hiệp định Chính phủ về hợp tác chuyên gia với một số nước châu Phi và thoả thuận ngành với ngành về sử dụng lao động Việt Nam với các nước I-Rắc, Li – Bi. Đây là giai đoạn có qui mô lao động đi làm việc ở nước ngoài lớn nhất, bình quân mỗi năm có trên 2,7 vạn lao động Việt Nam đi làm ở nước ngoài ( Xem bảng 1).

Nhìn chung, lao dộng đi làm việc ở nước ngoài trong giai đoạn này có tỉ trọng lao động không nghề lớn khoảng 57 %, đặc biệt những năm 1988, 1989, 1990 tỉ lệ này đạt 70 %. Phần lớn lao động trước khi đi không qua đào tạo, khi đến nước tiếp nhận, lao động được phân phối về các đơn vị sản xuất được kèm cặp, đào tạo tại chổ, được trang bị tay nghề phù hợp với các xí nghiệp, nhà máy bạn yêu cầu. Có thể thấy 45 % lao động làm trong ngành công nghiệp nhẹ, 26 % lao động trong xây dựng và 20 % làm cơ khí, 6 % làm nghề nông nghiệp và chế biến thực phẩm, 3 % còn lại làm các ngành nghề khác. Cơ cấu này không phải được phân chia tại Việt Nam mà do phía tiếp nhận,  mọi chi phí đào tạo do họ đài thọ.

Trong giai đoạn này, chúng ta đã đạt được một số kết quả như:

Giải quyết việc làm ở nước ngoài cho trên 28,8 vạn người. Trong đó 26,18 vạn ở bốn nước Xã Hội Chủ Nghĩa, 19 vạn ở I-Rắc, Li-Bi và 7200 chuyên gia và kỹ thuật viên đi làm việc ở Châu phi.

Đào tạo nghề cho thanh niên, đồng thời qua đó người lao động được rèn luyện tác phong công nghiệp.

Hiệu quả kinh tế : Ngân sách Nhà nước đã thu được 482 triệu Rúp phi mậu dịch (tương đương 263 tỉ đồng (1990) và 9,2 triệu USD) dùng để trả nợ, mua hàng hoá và đưa vào cán cân thanh toán với các nước. Thu nhập của một bộ phận người lao động được nâng cao thông qua việc mua hàng hoá mang về nước khoản 720 tỉ đồng và chuyển về nước khoảng 300 triệu  USD. Như vậy, tổng thu nhập về qua hợp tác lao động thời kỳ này đạt khoảng 1200 tỉ đồng tính theo thời giá năm 1990, chưa kể đến các hiệu quả kinh tế về thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, góp phần  cân đối tiền – hàng cho xã hội. Nhà nước không phải bỏ đầu tư kinh phí việc làm cho người lao động trong thời gian họ làm việc ở  nước ngoài.

Ngoài ra, hợp tác lao động còn thể hiện quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước anh, em bạn bè: Ta thấu hiểu việc làm, họ thiếu nhân công, lao động cuả ta đã góp phần vào việc hoàn thành kế hoạch sản xuất của các xí nghiệp, nhà máy của họ. Người lao động của ta cũng đã góp phần làm cho công nhân, nhân dân các nước hiểu thêm về đất nước và con người Việt Nam.

b) Giai đoạn hoạt động xuất khẩu lao động theo cơ chế thị trường (từ 1991 đến nay )

Đặc trưng của giai đoạn này là sự thay đổi về qui chế xuất khẩu lao động và qui mô hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu của thị trường lao động. Xuất khẩu lao động ( XKLĐ) của ta phải cạnh tranh với các nước XKLĐ trong khu vực có ưu thế hơn về khả năng và kinh tế chiếm lĩnh thị trường trên nhiều khu vực khác nhau. Do vậy, qui mô XKLĐ trong giai đoạn này giảm so với giai đoạn trước, mặc dù vẫn tăng theo thời gian.

Bình quân hàng năm chỉ gần 1 vạn người lao động đi làm ở nước ngoài. Số lao động phổ thông có xu hướng giảm và yêu cầu đòi hỏi người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài phải được đào tạo. Mọi người lao động trước khi đi đều được tham dự một khoá đào tạo do công ty cung ứng lao động tổ chức, thời gian chủ yếu là học ngoại ngữ của nước mà lao động sẽ đến làm việc. Ngoài ra còn học tập về pháp luật của nước đó,  những điều cần thiết về hợp đồng lao động, tranh chấp lao động, quan hệ ứng xử, phong tục tập quán và an toàn vệ sinh lao động. Nhờ đó, chất lượng lao động trong giai đoạn này được nâng cao hơn. Thời kỳ này, tuy số lượng người đi lao động xuất khẩu giảm nhưng thị trường lại được mở ra hơn trước : Đã có gần 40 nước và lãnh thổ tiếp nhận lao động và chuyên gia Việt Nam. Qua hơn  mười năm hoạt động XKLĐ và chuyên gia theo cơ chế thị trường chúng ta đã đạt được một số thành tích đáng kể :

Theo thống  kê. Tính đến tháng 6 năm 2001 đã có 140.000 lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài. Riêng năm 2000 có trên 31.400 người. Năm 2002 là 46.120, năm2003 rên 75.000, năm 2004 67.440. Hiện nay mỗi năm lao động xuất khẩu gửi về khoảng 1,5 tỷ USD.

(http:/vnepress.net/VietNam/Xa-hoi/2005)

Đã cố gắng mở rộng thị trường lao động mới ở các khu vực Đông – Bắc Á , Đông-Nam Á, Trung Đông. Nam Thái Bình Dương.

Trong những năm qua, với khoảng hơn 140.000 lao động làm việc ở nước ngoài, đất nước ta có thêm nguồn ngoại tệ đáng kể, có khoảng 1 tỉ USD. Mặt khác, Nhà nước còn tiết kiệm hàng trăm tỉ đồng đầu tư cho việc tự tạo việc làm mới cho số lao động này và hàng ngàn tỉ đồng khác liên quan đến các dịch vụ cho người lao động.

Có được những kết quả như trên là do Đảng và Nhà nước ta luôn có chủ trương nhất quán, mục tiêu chính sách rõ ràng và thường xuyên chỉ đạo lĩnh vực hoạt động XKLĐ và chuyên gia, coi đây là một hoạt động kinh tế – xã hội rất quan trọng. Vì vậy, hoạt động XKLĐ  và chuyên gia rất phù hợp với nền kinh tế thị trường, góp phần cho lao động Việt Nam hoà nhập với thị trường lao động thế giới. Hoạt động này cũng đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân lao động và xã hội, góp phần và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới.