Tính kế thừa từ khoa học phát triển của Phát Triển Bềnh Vững

 Khoa học phát triển, tiền thân của PTBV có những tính chất riêng của mình nhưng có nhiều khía cạnh liên quan đến các khoa học khác. Những tính chất của diễn trình phát triển gồm: tính sinh động, tính lịch sử, tính bao quát, tính tương đối và thời đại, tính văn hóa.

Tính sinh động của phát triển biểu hiện trên sự nhạy cảm đối với những ngưỡng tới hạn mà sự vật sắp tiếp cận đến. Đối với con người, nhạy cảm chủ quan là chất, là hồn mà trong tư duy triết học gọi là bản chất, mang tính chủ động, khách quan của MT tạo ra khả năng chống chịu, thích ứng với các biến động, với các tác động bên ngoài. Trong khi đó, về mặt XH, con người là một mặt trung tâm của một XH vận động theo hướng nhân văn, mặt khác lại là thành viên của cộng đồng sinh vật mà cộng đồng này lại liên kết tất cả XH loài người thuộc thế hệ hiện tại và tương lai với phần còn lại của thế giới tự nhiên, bao gồm cả đa dạng về văn hóa, đa dạng về thiên nhiên.

Tính lịch sử: Theo quan điểm của Marx-Engels quá trình vận động và phát triển của các sự vật diễn ra dưới tác động của một hệ thống các quy luật phổ biến khách quan. Tiến trình lịch sử của phát triển được hiểu như một tiến trình XH mà phát triển chính là   lịch sử biến chuyển của XH ấy. Bất kỳ một giai đoạn nào trong tiến trình phát triển cũng là di sản của giai đoạn trước đó và là nền tảng của giai đoạn sau đó.

Tính bao quát: Các hiện tượng XH, các biến chuyển XH đều xảy ra trong một MT sinh thái và một MT xã hội-nhân văn nên mọi yếu tố tự nhiên hay xã hội-nhân văn đều ít nhiều có quan hệ với nhau. Vì thế, trong nghiên cứu về phát triển có tất cả đặc tính của nghiên cứu khoa học XH, khoa học tự nhiên và tính tất yếu liên ngành. Kết hợp truyền thống-hiện đại, dân tộc-quốc tế, con người-thiên nhiên đó là những mối liên hệ tất yếu đảm bảo sự phát triển XH, điều đó cho thấy tính bao quát cao của phát triển.

Tính tương đối và thời đại: Phát triển là quá trình tương tác giữa người với người, giữa người với MT, bao gồm cả sự thăng tiến về vật chất cũng như thăng tiến phi vật chất. Vì thế các nhà nghiên cứu thường không thể kiểm soát, định lượng được các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình phát triển để tiến hành theo dõi hay kiểm chứng các giả thuyết của mình. Đối tượng nghiên cứu của họ là tiến trình phát triển nên không thể đóng trong khung nghiên cứu tĩnh được, tức là không phải các đối tượng tĩnh tại, mà là các đối tượng luôn vận động. Với những đối tượng nghiên cứu luôn biến chuyển thì các kết quả nghiên cứu chỉ có dưới dạng các “khả thể” mang đầy đủ tính chất tương đối của chủ thể  nghiên cứu. Chính vì lẽ đó, các kết quả nghiên cứu của khoa học XH thường mang tính tương đối cao, không có tính vĩnh cửu. Việc xem xét, vận dụng các kết quả của khoa học phát triển  nói riêng và khoa học XH nói chung là phải rất thận trọng và phải trở lại nguyên căn tình trạng, hoàn cảnh của nó để hiểu được bản chất của tiến trình phát triển, do đấy tính chất   của các kết quả nghiên cứu là không tĩnh tại như kết quả của khoa học tự nhiên.

Tính văn hóa của phát triển: Mỗi thành viên trong XH hiểu và quan niệm phát  triển theo cách khác nhau, tùy thuộc vào hệ thống giá trị văn hóa-XH. Mỗi XH lại có xu hướng, có tiến trình phát triển riêng của XH mình với những động thái và sắc thái riêng, bị ràng buộc bởi tầm văn hóa đặc thù cho mỗi quốc gia, mỗi XH, mỗi cộng đồng. Một XH  phát triển không thể đánh mất những giá trị bản sắc văn hóa của mình, cho dù cả văn hóa   và hệ thống giá trị XH luôn thay đổi theo thời gian. Nếu như KT là nền tảng và là yếu tố hàng đầu của sự phát triển XH, thì văn hóa-khoa học-giáo dục được xem là nguồn lực nội sinh từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở. Khoa học-kỹ thuật thể hiện trình độ chiếm lĩnh thiên nhiên, cải tạo XH của loài người, đó là hạt nhân của lực lượng SX. Sự phát triển khoa học-kỹ thuật tất yếu gắn với giáo dục- đào tạo NNL, bởi lẽ con người là chủ thể tạo    ra lực lượng SX, tạo ra khoa học-kỹ thuật, đồng thời cũng là chủ thể sử dụng khoa học-kỹ thuật, điều hành toàn bộ quá trình KT-XH.