Tính tất yếu phải cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước ở nước ta

Doanh nghiệp nhà nước và yêu cầu đổi mới Doanh nghiệp nhà nước.

Dưới góc độ chủ sở hữu, doanh nghiệp được gọi là Doanh nghiệp nhà nước khi Nhà nước là chủ sở hữu. Theo mô hình chủ nghĩa xã hội truyền thống, sở hữu Nhà nước (sở hữu toàn dân) được thiết lập ngoài ý nghĩa chính trị là xoá bỏ bóc lột, về mặt kinh tế nó được dựa trên dự báo có hiệu quả cao hơn so với sở hữu tư nhân. Trên nền tảng sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, Nhà nước tổ chức nền kinh tế có kế hoạch, hiệu quả hơn nền kinh tế thị trường hỗn loạn, mất cân đối.

Nhưng trên thực tế, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã vận hành không tốt như mong đợi. Cơ chế kinh tế này có nhiều khuyết tật và điều nan giải nhất là các Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả.

Ở Việt Nam, việc xoá bỏ quá vội vàng sở hữu tư nhân, thiết lập sở hữu Nhà nước và tập thể dựa trên các biện pháp hành chính, đã đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng kéo dài. Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bất chấp mọi nỗ lực đổi mới, hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước có khá hơn nhưng hiệu quả vẫn rất thấp. Bên cạnh đó việc sử dụng các nguồn lực kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh thấp đòi hỏi các Doanh nghiệp nhà nước phải có những đổi mới một cách căn bản. Nếu không chúng sẽ thất bại trong cạnh tranh, trong điều kiện hội nhập hiện nay.

Yêu cầu đổi mới Doanh nghiệp nhà nước.

– Phát triển kinh tế và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm. Doanh nghiệp nhà nước nắm trong tay phần lớn những nguồn lực của nền kinh tế như tài nguyên thiên nhiên, vốn và nhân lực. Tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp lại sử dụng lãng phí không hiệu quả các nguồn lực khan hiếm. Điều này chỉ ra trước tương lai không sảng sủa của nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế trong những năm qua không có nghĩa là mọi việc của chúng ta đang tiến triển tốt đẹp. Các tổ chức kinh tế thế giới đã cảnh báo không ít lần là tốc độ tăng trưởng cao của chúng ta có một nguyên nhân quan trọng là nền kinh tế có điểm xuất phát thấp.

– Phát triển kinh tế đòi hỏi xoá bỏ bao cấp đổi với Doanh nghiệp nhà nước. Hiện nay mối quan hệ giữa Nhà nước và các Doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn không rõ ràng. Nhà nước không nắm rõ ở mỗi thời điểm tổng số doanh nghiệp của mình là bao nhiêu, chứ chưa nói đến các chỉ tiêu phức tạp như vốn nằm ở đâu, tăng giảm như thế nào, hiệu quả sử dụng ra sao? Để duy trì doanh nghiệp kém hiệu quả, Nhà nước đã sử dụng hàng loạt các biện pháp bao cấp trực tiếp và gián tiếp như : xoá nợ, khoanh nợ, tăng vốn, ưu đãi tín dụng, tính chi phí không đầy đủ… và cuối cùng, không ai biết Doanh nghiệp nhà nước nuôi xã hội hay xã hội phải nuôi Doanh nghiệp nhà nước. Không nên quên rằng Doanh nghiệp nhà nước là phương tiện chứ không phải mục đích. Không thể lấy tiền của dân chúng để nuôi một vài doanh nghiệp thua lỗ triền miên, nhưng đã được các cơ quan chủ quản hà hơi tiếp sức hết đợt này đến đợt khác, với lý do cố vực dậy, lý do bảo vệ người lao động. Nhưng tiền bao cấp cho doanh nghiệp chính là thuế mà dân chúng đóng góp, trong đó có không ít người còn sống trong cảnh đói nghèo. Nhà nước phải là của toàn dân chứ không phải của riêng các Doanh nghiệp nhà nước, và Nhà nước cần hành động vì lợi ích của toàn dân chứ không phải chỉ riêng lợi ích của những người trong Doanh nghiệp nhà nước.

– Cạnh tranh với khu vực tư nhân. Yêu cầu đổi mới còn xuất phát từ việc cạnh tranh với khu vực tư nhân đang hồi sinh nhanh chóng. Mặt khác, trong quá trình hội nhập, Doanh nghiệp nhà nước không phải chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân trong nước mà với cả các doanh nghiệp tư nhân rất mạnh của nước ngoài. Cạnh tranh trong nước và quốc tế không chấp nhận việc Nhà nước giữ độc quyền cho các doanh nghiệp của mình. Cạnh tranh bình đẳng đòi hỏi không chỉ xoá bỏ độc quyền mà cả bao cấp.

Tóm lại, áp lực phát triển kinh tế thị trường đặt dấu chấm hỏi lớn đối với các tương lai của các Doanh nghiệp nhà nước nếu chúng không đổi mới.

Cổ phần hoá – giải pháp cải cách Doanh nghiệp nhà nước tối ưu

Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước là gì?

Khái niệm về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước.

Phải nói rằng nhân dân ta không còn xa lạ gì với khái niệm cổ phần. Cụm từ “cổ phần” đã rất quen thuộc từ trên 40 năm nay, kể từ khi Đảng ta vận động nhân dân lập hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng, lập cửa hàng, xí nghiệp, công ty hợp danh.
Vậy Cổ phần hoá là gì? “Cổ phần hoá là quá trình chuyển Doanh nghiệp nhà nước từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nước thành lập doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu”.

Người chủ sở hữu của doanh nghiệp là các cổ đông tự do bầu chọn ra Hội đồng quản trị là người đại diện chính thức cho mình.

Bản chất và các hình thức Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở nước ta.

Xét ở bản chất pháp lý, cổ phần hoá là biến doanh nghiệp một chủ thành doanh nghiệp nhiều chủ tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp cho những người khác. Những người này trở thành sở hữu doanh nghiệp theo tỷ lệ tài sản mà họ sở hữu trong doanh nghiệp cổ phần hoá. Xét dưới góc độ này thì cổ phần hoá dẫn tới sự xuất hiện không chỉ của công ty cổ phần trên nền tảng của doanh nghiệp được cổ phần hoá. Bản chất của cổ phần hoá như đã nêu ở trên không phải cũng được hiểu đúng trong thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật về cổ phần hoá. Có quan điểm đồng nhất cổ phần hoá với tư nhân hoá hay có quan điểm cho rằng cổ phần hoá chỉ liên quân đến Doanh nghiệp nhà nước.

Nhìn bề ngoài, cổ phần hoá là quá trình xác định lại mục tiêu phương hướng kinh doanh, nhu cầu vốn điều lệ và chia ra thành cổ phần. Đánh giá lại tài sản của doanh nghiệp, quyết định mức vốn Nhà nước giữ cần nắm giữ và rao bán rộng rãi phần còn lại. Qua đó làm thay đổi cơ cấu sở hữu, huy động tiền vốn, xác lập cụ thể những người tham gia làm chủ, được chia lợi nhuận và chuyển Doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần, thuộc sở hữu của tập thể cổ đông và chuyển sang hoạt động theo Luật của doanh nghiệp.

Song để hiểu rõ thực chất của cổ phần hoá, cần thấy rằng trong công ty cổ phần, trên cơ sở vốn điều lệ được chia ra thành nhiều phần, thì quyền lợi và trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng được phân ra thành những đơn vị có cơ cấu sở hữu. Sở dĩ cổ phần hoá có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước là do qua cổ phần hoá, cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp đã thay đổi, dẫn tới cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng thay đổi theo, từ đó tạo ra một cơ cấu động lực có chủ thể rõ ràng và hợp lực mới mạnh mẽ hơn; đồng thời chuyển doanh nghiệp sang vận hành theo cơ chế quản lý mới, tự chủ, năng động hơn, nhưng có sự giám sát rộng rãi và chặt chẽ hơn.

Cho nên, thực chất cổ phần hoá nói chung là giải pháp tài chính và tổ chức, dực trên chế độ cổ phần nhằm đổi mới cơ chế và cơ cấu phân chia quyền lợi và trách nhiệm gắn chặt với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cổ phần hoá theo phương thức hiện hành là giải pháp nhằm làm thay đổi cơ cấu sở hữu, dẫn tới thay đổi cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm từ chỗ chỉ có Nhà nước nắm quyền và chịu trách nhiệm chuyển sang chia sẻ kết quả kinh doanh, cả quyền lợi và trách nhiệm, lợi nhuận và rủi ro cho những người tham gia góp vốn, do đó tạo ra động lực, trách nhiệm và hiệu quả doanh nghiệp.

Trên cơ sở mục đích của cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước là nhằm chuyển doanh nghiệp từ một chủ sở hữu sang doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, cổ phần hoá ở nước ta bao gồm nhiều hình thức khác nhau:

– Giữ nguyến giá trị doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn.
– Bán một phần giá trị doanh nghiệp cho các cổ đông.
– Cổ phần hoá đơn vị phụ thuộc của công ty.
– Chuyển toàn bộ doanh nghiệp thành công ty cổ phần.

Như vậy, thực chất cổ phần hoá là làm giảm bớt vai trò trực tiếp làm chủ sở hữu các doanh nghiệp, giảm bớt đầu tư của Nhà nước, tăng thêm nguồn vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội trong và ngoài nước để tạo thêm sức mạnh kinh tế cho doanh nghiệp.

Cổ phần hoá là giải pháp cải cách doanh nghiệp tối ưu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Từ yêu cầu đòi hỏi phải đổi mới các Doanh nghiệp nhà nước, vấn đề cải cách Doanh nghiệp nhà nước từ lâu là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước ta. Đã có nhiều giải pháp cải cách được thực hiện. Trong thời gian từ 1960 đến 1990, tức là trước thời điểm thực hiện cổ phần hoá, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai nhiều biện pháp nhằm cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh (Doanh nghiệp nhà nước theo tên gọi lúc đó). Tuy nhiên thực tế cho thấy các giải pháp cải cách Doanh nghiệp nhà nước được thực hiện trước năm 1990 ít mang lại hiệu quả. Vai trò, hiệu quả của Doanh nghiệp nhà nước hầu như không được cải thiện. Tình trạng kém hiệu quả, thua lỗ, tình trạng lãng phí tài sản vẫn là căn bệnh cố hữu của Doanh nghiệp nhà nước ở nước ta. Nhiều Doanh nghiệp nhà nước đã trở thành bình phong cho những hoạt động kinh tế phi pháp, trốn thuế, lậu thuế, buôn lậu. Có khá nhiều ý kiến khác nhau về những kết quả hạn chế của các biện pháp cải cách Doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện trước đây. Tuy nhiên có thể nhận thấy dễ dàng được thừa nhận khá rộng rãi là Doanh nghiệp nhà nước thực tế không có chủ nhân thực sự. Nhà nước cũng là thực thể trừu tượng. Các cán bộ, công nhân trong Doanh nghiệp nhà nước ít quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp nhà nước nơi mình đang làm việc. Lý do đơn giản là họ vẫn có lương ngay cả khi Doanh nghiệp nhà nước đã bên bờ phá sản. Rõ ràng, vấn đề lợi ích, đặc biệt là lợic ích sở hữu trong Doanh nghiệp nhà nước chính là cội nguồn của những căn bệnh mà chúng gặp phải.

Cải cách Doanh nghiệp nhà nước có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau như: bán Doanh nghiệp nhà nước, cho thuê Doanh nghiệp nhà nước, cải cách cơ chế quản lý Doanh nghiệp nhà nước… Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước chỉ là một trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của nước ta trong thập kỷ vừa qua cho thấy cổ phần hoá là giải pháp phù hợp với nền kinh tế nước ta trong giai đoạn phát triển hiện nay.

Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện thí điểm thí điểm từ năm 1990. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chương trình này là Quyết định số 143/HĐBT ngày 10-5-1990 của Hội đồng bộ trưởng và sau đó được thực hiện với quy mô rộng hơn. Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường được Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) khởi xướng đã tạo ra những điều kiện để cải cách triệt để hơn đối với Doanh nghiệp nhà nước, thông qua việc cổ phần hoá chúng. Sở dĩ cổ phần hoá được coi là giải pháp triệt để vì nó giải quyết được căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức quản lý và hoạt động của Doanh nghiệp nhà nước – đó là vấn đề sở hữu. Những giải pháp cải cách Doanh nghiệp nhà nước khác chỉ động chạm đến cơ chế quản lý theo hướng tăng cường quyền tự chủ của của Doanh nghiệp nhà nước trong một hoặc một số lĩnh vực cụ thể. Cổ phần hoá doanh nghiệp chấp nhận sự dung hoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong bản thân các thực thể kinh tế vĩ mô mà trước hết là trong các doanh nghiệp. Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước là giải pháp làm thay đổi kết cấu sở hữu của chúng, điều mà trước đổi mới ít ai dám nghĩ đến chứ chưa nói là triển khai nó.