Tình trạng độc quyền tương đối phổ biến trên thị trường nông nghiệp

Nền nông nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước chịu tác động của qui luật cạnh trạnh thị trường. Về lý luận, có hai loại cạnh tranh thị trường trong nông nghiệp, đó là thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường độc quyền. Về mặt thực tiễn cho thấy, không phải mọi thị trường đều có tính chất cạnh tranh, mà ngược lại trong nông nghiệp, độc quyền một người bán và độc quyền một người mua là những nét đặc trưng của thị trường nông nghiệp. Với trường hợp độc quyền bán, ví dụ trên một vùng nông thôn rộng lớn chỉ có một công ty thương mại của Nhà nước đảm nhiệm phần lớn việc cung ứng phân bón, thuốc sâu và các vật tư nông nghiệp khác cho các hộ gia đình. Trường hợp độc quyền mua mang tính chất phổ biến hơn. Ví dụ, trên một vùng nào đó chỉ có một nhà máy chế biến mua nguyên liệu do nông dân sản xuất ra; hoặc mỗi ngành sản phẩm nông nghiệp chỉ có một hoặc hai công ty tham gia xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới.

Trên thị trường nông nghiệp, độc quyền tồn tại dưới hai trạng thái: độc quyền nhất thời và độc quyền lâu dài. Độc quyền nhất thời thường gắn với những điều kiện còn thiếu vắng cho một thị trường cạnh tranh hoàn hảo như trình độ công nghệ, khả năng quản lý không đều của các doanh nghiệp, điều kiện và kiến thức tiếp thị còn thiếu v.v… Độc quyền lâu dài thường gắn với những yếu tố phi kinh tế như ngăn sông cấm chợ giữa các vùng và các địa phận hành chính, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc chế biến sản phẩm hoặc không có những sản phẩm thay thế gần gũi.

Lý thuyết kinh tế học cũng đã chứng minh rằng khi làm cho một ngành hàng trở thành độc quyền có thể gây ra tình trạng sản lượng cung cấp ít đi, giá bán cho người tiêu dùng tăng lên và nhà kinh doanh thu được lợi nhuận độc quyền. Về lâu dài, tình trạng độc quyền có thể gây ra những tín hiệu sai lệch về giá cả và hiệu quả sản xuất, dẫn đến sự phân bổ và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong ngành nông nghiệp.

Cũng tương tự như trong các ngành kinh tế khác, trong nông nghiệp ngoài những độc quyền bắt buộc phải tồn tại, chủ yếu là các ngành dịch vụ cho nông nghiệp nông thôn như vận tải, cung cấp điện, điện thoại …, được Nhà nước cho phép các doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ, còn trong các lĩnh vực khác, Nhà nước thường khống chế tình trạng độc quyền bằng hai hình thức chủ yếu sau đây:

Mộtlà, kiểm soát giá đối với các doanh nghiệp độc quyền. Trên thực tế, bên cạnh việc giao một số lĩnh vực độc quyền cho các doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước thường qui định các giá tối đa cung cấp điện, xăng dầu, phân bón Urê… cho nông dân và qui định giá mua tối thiểu các nông sản mà các nhà máy chế biến hay cơ quan thương mại phải trả cho người bán. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, các yếu tố đầu vào của nông nghiệp chịu chi phối của giá quóc tế. Do vậy, khi áp dụng biện pháp kiểm soát giá độc quyền, thông thường Nhà nước phải chi ra một khoản chi từ Ngân sách Nhà nước.

Hai là, đánh thuế trọn gói đối với lợi nhuận độc quyền cao. Thực chất của chính sách này là chuyển dịch được một khoản tiền nhất định, có tính chất cố định vào ngân sách Nhà nước mà không ảnh hưởng gì đến giá cả và sản lượng của doanh nghiệp. Thực hiện chính sách này đòi hỏi có tài liệu đầy đủ về lượng cầu đầu vào và chi phí của doanh nghiệp độc quyền. Trong hoạt động thực tiễn, nếu có đủ các tài liệu về doanh nghiệp độc quyền, Nhà nước có thể quyết định thực hiện giá theo chi phí cận biên. Khi đó cần kết hợp đánh thuế trọn gói với phụ cấp theo đơn vị sản phẩm. Điều này khuyến khích tăng sản lượng và tăng thu vào ngân sách. Trong trường hợp nếu nhà nước đánh thuế trọn gói bằng mức phụ cấp chi trả cho mức sản lượng tối đa của doanh nghiệp sẽ vừa khuyến khích tăng sản lượng và vừa chống trục lợi giữa doanh nghiệp độc quyền và cán bộ nghiệp vụ thuế.