Tổ chức thực hiện giảm nghèo bền vững vùng miền núi

Thứ nhất, xây dựng bộ máy thực hiện GNBV

Đây là nội dung quan trọng của vai trò CQCT đối với GNBV vùng miền núi,

bởi bộ máy là lực lượng thực hiện GNBV vùng miền núi. Để xây dựng bộ máy thực hiện tốt quá trình GNBV vùng miền núi đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề sau:

Một là, tổ chức bộ máy hoạt động có hiệu quả trong quá trình thực hiện GNBV vùng miền núi. Trong quá trình thực hiện GNBV vùng miền núi, bộ máy thực hiện có vai trò rất quan trọng, là nơi trực tiếp thực thi chiến lược, chính sách. Chiến lược, chính sách đúng là điều kiện tiên quyết, song phải có bộ máy thực thi GNBV mạnh, hoạt động có hiệu lực thì chiến lược và các chính sách đó mới phát huy tác dụng. Mặt khác, trong quá trình thực hiện GNBV vùng miền núi, bộ máy góp phần tích cực vào việc phát hiện, bổ sung, hoàn thiện chiến lược và các chính sách. Vì vậy, để tổ chức thực hiện tốt quá trình GNBV vùng miền núi tất yếu đòi hỏi bộ máy hoạt động có hiệu quả. Do vậy, nguyên tắc hiệu quả trong hoạt động là nguyên tắc cơ bản nhất trong tổ chức của bộ máy thực hiện GNBV vùng miền núi. Thực hiện được điều này đòi hỏi trong việc xây dựng bộ máy thực hiện GNBV vùng miền núi phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

Hai là, xây dựng bộ máy thực hiện GNBV vùng miền núi phải xuất phát từ yêu cầu cuộc sống, phù hợp với điều kiện thực tế vùng miền núi. Có vậy, bộ máy quản lý kinh tế mới phát huy được năng lực, đáp ứng được đòi hỏi của GNBV vùng miền núi.

Ba là, bộ máy thực hiện GNBV vùng miền núi phải tinh gọn, hợp lý, phân định rõ chức năng và quyền hạn, nghĩa vụ của các bộ phận chức năng, không chồng  chéo  lên nhau.

Thứ hai, thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước Trung ương và  các  chính sách do tỉnh ban hành về GNBV vùng miền núi trên địa bàn

Luật pháp, chính sách đúng nhưng thực hiện sai thì luật pháp, chính sách sẽ hạn chế mức độ tác động. Do vậy, tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách GNBV vùng  miền núi trên địa bàn của CQCT có vai trò rất quan trọng.

Để thực hiện luật pháp, chính sách GNBV vùng miền núi trên địa bàn được tốt, thì bộ máy CQCT phải:

Một là, CQCT căn cứ vào nhiệm vụ được giao, xây dựng chương trình hành  động để đưa chính sách GN vào thực tế vùng miền núi trên địa bàn. Chương trình đó    sẽ bao gồm các phương hướng, biện pháp thực thi cụ thể, có thời gian triển khai rõ  ràng, đề ra mục tiêu cho từng giai đoạn, đưa ra danh sách các công việc cần phải thực hiện cũng như các phương án phân bỏ nguồn lực để thực hiện các mục tiêu cụ thể của chính sách GN trong từng giai đoạn tại từng địa bàn.

Hai là, căn cứ vào chiến lược GN quốc gia và mục tiêu GNBV của tỉnh, bộ máy thực thi GN của CQCT ban hành các văn bản hướng dẫn để cụ thể hóa chính sách, hướng dẫn các cấp cơ sở, các đơn vị và đối tượng được hưởng chính sách GNBV tại vùng miền núi biết và thực hiện.

Ba là, xây dựng các cơ chế phối hợp, hỗ trợ thực thi kế hoạch, chương trình   hành động GNBV thông qua:

  • Sử dụng các kênh thông tin đại chúng, thông qua công tác tuyên truyền về chính sách GN cho vùng miền núi, giúp các đối tượng thụ hưởng trực tiếp và các bên hữu quan hiểu về nội dung chính sách, nghĩa vụ và lợi ích của mình trong thực hiện chính sách GNBV, từ đó huy động được sự đồng tình ủng hộ của các bên, nhất là sự tự giác, nỗ lực của bản thân người nghèo ở vùng miền núi. Ở bước này, CQCT cần phối hợp với chính quyền cấp huyện, xã để tìm ra phương thức truyền thông hiệu quả nhất tới đối tượng người nghèo ở vùng miền núi, cần kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt các hình thức trong tuyên truyền hiệu quả, như báo chí, phát thanh, truyền hình… cũng như lồng ghép chủ đề GNBV phù hợp với tâm lý, tập quán của đồng bào từng vùng vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng. Nhờ vậy, một mặt, có thể nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là người nghèo về chính sách GN của địa phương; mặt khác, có thể góp phần xây dựng ý chí và lòng quyết tâm trong vươn lên thoát nghèo theo hướng bền vững cho chính bản thân họ. Thông thường công tác vận động tuyên truyền chính sách đóng vai trò vô cùng quan trọng nhằm giúp đơn vị thực thi và các cơ quan hữu quan, các đối tượng thụ hưởng chính sách GN nắm bắt được đầy đủ nội dung của chương trình, dự án và chính sách GN đang được triển khai ở địa phương, từ đó lôi kéo được sự quan  tâm, tham gia tích cực đến chủ trương, chính sách GN của địa phương. Do đó, mà họ hình thành được khả năng tự định hướng hoạt động của mình, có ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ trong thực hiện các đường lối và chủ trương, chính sách và pháp luật trong  phát triển KT-XH của địa phương nói chung, và đối với GNBV nói riêng.
  • Xây dựng, thẩm định, phê duyệt và quản lý các dự án trong khuôn  khổ chính sách GNBV vùng miền núi. Để hỗ trợ cho công tác triển khai xây dựng, thẩm định,  phê duyệt và quản lý các dự án, chính quyền địa phương cấp tỉnh cần có kế   hoạch và cơ chế để đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các huyện,  xã vùng miền núi; tăng cường huy động nguồn vốn tư nhân cũng như minh bạch hóa và cạnh tranh hóa quá trình quản lý đầu tư. Để GNBV vùng miền núi, trong triển khai các chương trình, chính sách của Nhà nước Trung ương, bộ máy thực thi GN của CQCT  cần chú ý tập trung nhiều vào những dự án, chương trình nhằm hỗ trợ cho sản xuất tại địa phương được phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng thời với cơ cấu lao động của các huyện, xã vùng miền núi phù hợp với đặc điểm khí hậu, địa hình, tập quán   canh tác của địa phương.
  • Tổ chức các quỹ và điều hành các quỹ, đảm bảo được sự quản lý thống nhất của cơ quan cấp tỉnh đối với các quỹ để tập trung được các nguồn lực cho mục tiêu GNBV một cách hiệu quả, tiết kiệm nhất. Nhằm sử dụng hợp lý các nguồn quỹ, trước tiên cần thường xuyên chỉ đạo việc rà soát thực trạng các hộ nghèo ở các huyện vùng miền núi, chú ý đối tượng cận nghèo và có khả năng tái nghèo cao; đánh giá khả năng thực hiện các mục tiêu GN vùng miền núi, từ đó xây dựng kế hoạch và hệ thống các giải pháp cụ thể, chi tiết, phù hợp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện GN ở vùng miền núi; cần chống các bệnh thành tích, bệnh quan liêu, cố ý không trình bày, luận giải  đúng  tình hình nghèo của địa phương, cơ sở. Bộ máy thực thi GN của CQCT có văn bản cụ thể hướng dẫn, chỉ đạo các huyện vùng miền núi xây dựng dự án cụ thể, tập trung đầu  tư và chỉ đạo thực hiện  đồng bộ để GNBV. Việc phân bổ kinh phí,  nguồn vốn cho  vùng miền núi đảm bảo các mục tiêu và tập trung vào trọng điểm GN nhanh và bền vững; tăng cường việc kết hợp giữa các chương trình, dự án trên địa bàn; huy động và tạo ra các nguồn nội lực của chính địa phương, cơ sở; phát huy vai trò, sự kết hợp với các cơ quan, tổ chức trong chỉ đạo thực hiện GN cho vùng miền núi.

Bốn là, xây dựng, củng cố và phát triển các hệ thống tổ chức sự nghiệp và dịch vụ nhằm triển khai, thực hiện các kế hoạch, chương trình từ cấp tỉnh xuống các cấp cơ sở, thực hiện các nhiệm vụ và biện pháp cụ thể phù hợp với phạm vi quản lý và cấp quản lý. Trong bước này, các tỉnh phải ban hành các chính sách để đào tạo, nâng cao trình độ chuyên  môn, năng lực của đội ngũ cán bộ ở cấp cơ sở ở vùng miền núi; cần  gắn việc thực hiện các chương trình GN tại các cơ sở với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường phân cấp cho cơ sở.

Thứ ba, phối hợp đồng bộ của các cấp chính quyền về thực hiện giảm  nghèo   bền vững vùng miền núi

Để thực hiện được sự phối hợp đồng bộ của các cấp chính quyền về thực hiện GNBV vùng miền núi trước hết phải phân quyền các đợn vị thực hiện. Phân quyền là việc phân chia chức năng, nhiệm vụ, và quyền hạn cho các đơn vị tổ chức thực hiện GNBV  vùng miền núi. Thực chất của phân cấp  quản lý là việc cấp trên phân công,  giao các nhiệm vụ và các quyền hạn cần thiết cho cấp dưới, để  các  cấp có thể thực  hiện chủ động, thường xuyên và liên tục bằng nhiều phương thức khác nhau như xây dựng và ban hành các văn bản hoặc bằng các quyết định cụ thể mà cấp trên giao cho  cấp dưới.

Nội dung của phân quyền thực hiện GNBV vùng miền núi là giao cho các cấp chính quyền, các cơ quan tổ chức trong bộ máy CQCT về những trách nhiệm và quyền hạn để họ triển khai, thực hiện. Tức là, quyền và trách nhiệm trong khi thực hiện  GNBV được giao cụ thể cho từng cấp, tránh chồng chéo.

Như vậy, phân  quyền thực hiện GNBV vùng miền núi thực chất là  trao cho  từng cấp những quyền hạn để họ có thể tự quyết định công việc được giao, tự quản lý những công việc của họ về GNBV vùng miền núi. Các cấp chính quyền thực hiện GNBV vùng miền núi có những nhiệm vụ và  quyền hạn, trách nhiệm và  nguồn lực  trên cơ sở năng lực của mình để hoàn thành nhiệm vụ theo thẩm quyền được giao.

Trên cơ sở phân quyền thực hiện GNBV vùng miền núi một cách rõ ràng, CQCT xây dựng xây dựng cơ chế phối hợp ngành, huyện, xã trong tổ chức quản  lý  thực hiện GN. Để sự phối hợp được nhịp nhàng, nhuần nhuyễn, mang lại hiệu quả cao nhất,  cần phải thực hiện theo đúng kế hoạch đã đề ra, đặc biệt trong kế hoạch cần cụ  thể hóa những khâu, những giai đoạn cần phải phối hợp, các đơn vị liên quan, cơ quan chủ trì đầu mối thông tin liên lạc, quyền hạn của các bên khi tham gia, phối hợp thực hiện chính sách GNBV ở vùng miền núi. Bên cạnh đó, cũng cần phải duy trì mối quan hệ quản lý và phối hợp cả chiều dọc và chiều ngang thông qua hệ thống thông tin, các buổi gặp mặt, giao ban, họp giữa các ban ngành, các huyện, các tổ chức liên quan.