Tổ chức thực hiện tốt giảm nghèo bền vững.

Thứ nhất, xây dựng bộ máy thực hiện giảm nghèo bền vững phù hợp với  điều  kiện vùng miền núi.

Chính quyền tỉnh cần xác định việc xây dựng chính quyền trong sạch, vững  mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và điều hành công  tác GNBV chính là  nhiệm vụ xuyên suốt, cần chú trọng quan tâm. Trong công tác GN nói  chung  và  GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ An nói riêng, vai trò của CQCT rất quan trọng, chính vì vậy, cần phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, nhất là cần liên tục tăng cường  đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong công tác GNBV vùng  miền núi tỉnh Nghệ An, xây dựng và củng cố bộ máy lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp có đủ trình độ chuyên môn nghề nghiệp, có tư tưởng và đạo  đức trong sang giúp người dân GN. Đặc biệt, cần có cơ chế chính sách và chế tài nghiêm khắc để đề cao trách nhiệm của những người đứng đầu các đơn vị chịu trách nhiệm và liên quan trong công tác GN ở địa phương,  thực hiện cải cách hành chính  triệt để, cụ thể hóa có hiệu quả đối vối các chủ trương, đường lối, chính sách GN của Đảng và Nhà nước tới các địa phương, nhất là vùng miền núi của tỉnh.

Ngoài ra, cần tăng cường trách nhiệm và vai trò của cơ quan chịu trách  nhiệm  đầu mối trong tổ chức thực hiện chính sách GN cấp tỉnh là Sở LĐ-TBXH theo hướng cần tăng cường trách nhiệm trong tham gia góp ý, tham mưu cho HĐND, UBND tỉnh trong việc ban hành quy chế phối hợp giữa chính quyền các cấp (tỉnh, huyện, xã) trong việc lập kế hoạch thực hiện  các chính sách GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ An. Việc  tổ chức thực hiện chính sách GNBV nên được tiến hành theo chiều từ cơ sở lên thông qua việc thường xuyên lấy ý kiến của các cấp cơ sở (nhất là ở cấp thôn, bản, xã) để bổ sung, điều chỉnh trong suốt quá trình thực hiện chính sách GNBV vùng miền núi.

Ở quá trình đó, cấp cơ sở (cấp xã) là cấp trung gian giữa huyện và các đơn vị thôn, bản, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong triển khai  chính sách đến tận từng  người dân, hộ dân. Muốn vậy, cần nhanh chóng hoàn thiện bộ máy quản lý GN ở các cấp, tránh việc kiêm nhiệm quá nhiều, thay vào đó, nên có đội ngũ đảm nhiệm chuyên trách. Ví dụ như thành lập các ban phát triển xã chịu trách nhiệm thống nhất kế hoạch hoạt động và hỗ trợ cho các ban phát triển thôn, bản trong quá trình triển khai các hoạt động GN, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật sản xuất và canh tác như tổ chức hội thảo, tập huấn, quản lý… Ban phát triển các cấp (xã, thôn, bản) cũng đóng vai trò quan trọng trong kiểm tra và giám sát tài chính, báo cáo và đánh giá việc thực thi các chính sách GNBV vùng miền núi, có kiến nghị lên cấp trên hoặc giải quyết kiến  nghị của người dân trong phạm vi thẩm quyền được giao.

Sau khi xem xét đề nghị của cấp cơ sở, cơ quan quản lý cấp huyện có vai trò tập hợp kiến nghị, xây dựng kế hoạch dựa trên nhu cầu của các xã, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch theo phân công, phân bố và cân đối các nguồn nhân lực, vật lực theo điều kiện cụ thể của địa phương. Bên cạnh đó, cấp huyện cũng chịu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các xã có theo đúng kế hoạch thực hiện hay không.

Trong khi đó, CQCT chịu trách nhiệm toàn bộ về việc phê duyệt kế hoạch, lựa chọn, lồng ghép các chương trình, chính sách GNBV  dành cho vùng miền  núi.  Tại  cấp tỉnh, các cơ quan chuyên trách như Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở LĐ-TBXH… dưới sự chỉ đạo của HĐND và UBND tỉnh chịu trách nhiệm huy động, điều phối, sử dụng nguồn ngân sách được cấp  cho địa  phương một  cách phù  hợp  nhất, ưu tiên ngân sách cho vùng miền núi vùng cao. CQCT cũng là đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp về việc cụ thể hóa chính sách GN của Chính phủ và tỉnh cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm KT-XH của vùng miền  núi. Để quá  trình  tổ chức  thực hiện được hiệu quả, đúng mục đích, chính quyền địa phương cấp  tỉnh  cũng thường xuyên phải tổ chức kiểm tra, đánh giá  và giám sát việc thực  hiện của các  đơn vị trực thuộc (sở, ban, ngành và các huyện) một cách định kỳ (theo tháng, quý, năm) nhằm thu thập các phản hồi về chính sách, thực hiện điều  chỉnh chính sách khi  cần thiết nhằm đảm bảo chính sách đi vào cuộc sống của người dân nghèo vùng miền núi   và mang lại hiệu quả cao nhất có thể.

Hiện nay, do chạy theo thành tích, các xã có thể báo cáo không  trung  thực tình  hình nghèo của địa phương. Vì vậy, để bộ máy hoạt động có hiệu quả và tránh tình  trạng các đơn vị cơ sở vì thành tích báo cáo không chính xác tình trạng nghèo, CQCT nên quy định, bộ máy GN cấp huyện phải có một cộng tác tác viên ở xã (hoặc thôn, bản), độc lập với xã, không thuộc quyền chi phối của xã thực hiện một số chức năng, trong đó có chức năng theo dõi những vấn đề liên quan đến nghèo và GN ở  địa  phương.

Thứ hai, thực hiện tốt chính sách GNBV của Trung ương và của tỉnh

Một là, tỉnh Nghệ An cần tiến hành đánh giá lại toàn bộ và toàn diện việc thực hiện chính sách GNBV cho vùng miền núi trong thời gian qua, từ đó rút ra những khó khăn cơ bản, và đề xuất các khuyến nghị, cơ chế hỗ trợ đặc thù phù hợp với điều kiện của từng huyện vùng miền núi, giúp UBND tỉnh và Chính phủ có thêm những quyết sách GNBV trong giai đoạn tiếp theo (2021 – 2025). Chính sách đó phải  được  xây dựng một cách toàn diện, từ việc đầu tư cho các vùng dân tộc, vùng miền núi,  xây  dựng bộ máy quản lý hoạt động GNBV để điều hành, theo dõi, đôn đốc tiến độ thực hiện các chính sách của Trung ương và của tỉnh, giúp tăng hiệu quả của các chính sách GNBV cho vùng miền núi. Trên cơ sở  đó,  các cơ quan  chịu trách nhiệm quản lý vấn đề GN ở cấp tỉnh như (HĐND, UBND, Sở LĐ-TBXH, Ban Chỉ đạo GN…) cần soạn thảo và ban hành được văn bản hướng dẫn thực thi các chính sách GNBV cho các huyện, xã vùng miền núi một cách kịp thời, nhằm tránh sai sót, lúng túng trong triển khai các chính sách GN trên địa bàn. Trong quá trình thực thi, cần thực hiện có kết quả và hiệu quả đối với các chính sách của Nhà nước có tác động trực tiếp đến đời sống và hệ thống các điều kiện phục vụ sinh hoạt của người nghèo ở vùng miền núi trước tiên nhằm tạo ra bước chuyển vượt bậc, nhanh và bền vững về chất lượng của  cuộc sống  của người nghèo, nhất là của người nghèo thuộc các DTTS. Cần chú trọng triển khai  các chính sách tác động tới sinh kế của người dân, giảm tình trạng bất  bình  đẳng về  thu nhập và mức sống giữa vùng miền núi với phần còn lại của tỉnh,  tăng khả năng  giúp người nghèo tiếp cận các dịch vụ công cộng và pháp lý, bảo vệ và tăng quyền cho phụ nữ, trẻ em nghèo, nhất là trong các cộng đồng DTTS.

Cần chú trọng quan điểm lồng ghép ở cả khâu ban hành và thực thi các chương trình GNBV. Thông qua việc xây dựng cơ chế phối hợp, lồng ghép giữa các chương trình GNBV cho vùng miền núi tỉnh Nghệ An sẽ giúp lồng ghép các nguồn vốn, đảm bảo mục tiêu GN trong điều kiện ngân sách hạn hẹp và phải chia sẻ, ưu tiên cho nhiều mục tiêu phát triển KT-XH khác. Đặc biệt, sau khi xây dựng cơ chế cần tiến hành bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ các phòng chuyên môn của vùng miền núi trong triển khai chính sách, nhất là trong khâu lập kế hoạch tài chính,  phối hợp lồng ghép   các nguồn vốn, tránh tình trạng xin điều chỉnh kế hoạch vốn cho chính sách này sang thực hiện chính sách khác. Bên cạnh đó, cũng cần tránh tình trạng dàn trải các nguồn vốn trong thực hiện đầu tư, trong khi khả năng bố trí ngân sách Nhà nước của địa phương là có hạn, tránh lãng phí nguồn lực mà không mang lại hiệu quả GNBV như mong muốn.

Các cơ quan tổ chức thực thi chính sách GNBV vùng miền núi cần thay đổi   cách tiếp cận trong việc hỗ trợ cải thiện sinh kế cho người nghèo thông qua một số phương pháp hữu ích như soạn thảo và ban hành sổ tay thực hiện GN dành riêng cho vùng miền núi tỉnh Nghệ An. Hoặc đầu tư các hình  thức khuyến nông,  khuyến  lâm sinh kế trên địa bàn, cần xây dựng những chính sách hỗ trợ cho người nghèo, người DTTS ở vùng miền núi được đào tạo và tìm kiếm việc làm ngoài tỉnh, gia tăng thu nhập. Bên cạnh đó, tỉnh Nghệ An cũng cần nghiên cứu thiết kế chương trình đồng bộ   để cải thiện khả năng quản lý ở các địa phương (đặc biệt là các huyện miền núi), theo  đó hướng tới việc tăng quyền năng và tiếng nói của người nghèo, tăng thiết chế thôn bản, làm cơ sở để tăng cường trách nhiệm của các cấp chính quyền,  các cơ quan dịch  vụ công trong giải trình với người dân liên quan tới việc thực hiện các chính sách GN    ở địa bàn vùng miền núi.

Hai là, cần thống kê, sắp xếp và giảm tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn    lực trong GN, bên cạnh đó cũng cần nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá tính khả thi của  các chính sách, tránh tình trạng chính sách treo như Chính sách đặc thù hỗ  trợ phát  triển KT-XH vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2016 – 2020 (Thủ tướng Chính phủ, 2016). Để khắc phục tình trạng trên, trong quá trình triển khai thực hiện cần đảm bảo:

  • Ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn cụ thể về các chính sách, chương trình GN, chi tiết hóa cho vùng miền núi. Đối với các vùng nghèo, đặc biệt là các vùng khó khăn và vùng đồng bào DTTS, có nhiều chính sách cùng triển khai cùng một lúc, chính quyền các huyện phải căn cứ vào nội dung, đối tượng thụ hưởng và thời gian  thực hiện chính sách để sắp xếp, bố trí nguồn lực, cán bộ quản lý,  giảm tình trạng  chồng chéo về chính sách và công bằng giữa các đối tượng thụ hưởng chính sách.
  • Hỗ trợ nhân lực cho các huyện vùng miền núi trong việc triển khai chính sách GNBV như triển khai các cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ cho sản xuất phát triển, tạo việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nghèo đang gặp khó khăn… nhằm giúp các huyện vùng miền núi – vốn thiếu cán bộ và kinh phí hoạt động để thực hiện hướng dẫn người nghèo làm thủ tục, kiểm tra, xét duyệt trước khi thực hiện chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo. Trong ngắn hạn, việc cử đoàn cán bộ tỉnh tăng cường cần được xem xét tới, và trong dài hạn, cần bố trí nguồn lực để tổ chức đào tạo, tập huấn cho cán bộ cơ sở về công tác tổ chức thực hiện các chính sách GN ở vùng miền núi.
  • Xây dựng chế tài xử phạt cụ thể cho các bên liên quan quản lý chương trình nên cơ chế tài chính, cơ chế phân bổ lồng ghép nguồn vốn thực hiện cũng như việc lập hồ sơ nghiệm thu, thanh quyết toán cuối năm còn chậm làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các chương trình

Ba là, tăng cường sự tham gia của các nhóm cộng đồng nghèo (hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, các cộng đồng DTTS…) trong quá trình thực hiện chính sách GN cho vùng miền núi. Các huyện vùng miền núi cần quán triệt việc thực hiện minh bạch hóa thông tin về chính sách GN cho người dân địa phương nắm rõ, từ đó giúp người dân tham gia hiệu quả vào công tác giám sát hoạt động GNBV ở các huyện, xã vùng miền núi. Việc quản lý tài chính chung của chương trình cũng cần công khai, minh bạch dưới các văn bản cụ thể. Đặc biệt, cần tăng cường đối thoại về việc thực thi chính sách GNBV ở các cấp độ và các đối tác khác nhau, nhất là ở các nhóm dễ bị tổn thương nhất; tăng khả năng tham gia của cộng đồng người nghèo, các nhóm DTTS vào hoạt động chủ trì, tham gia tiến trình ra quyết định liên quan tới việc tổ chức thực hiện các chính sách GN triển khai trên địa bàn. Thông qua công tác tuyên truyền, vận động người nghèo ở vùng miền núi, xây dựng và xác định tư tưởng, trách nhiệm cho chính những người được thụ hưởng chính sách GN của Đảng và Nhà nước, yêu cầu họ nhìn nhận nghiêm túc vai trò vị trí của mình trong tiến trình GN chung của vùng miền núi, để tự họ nỗ lực vươn lên thoát nghèo. Thay vì hỗ trợ về mặt hiện vật, Nhà nước và các tổ chức, nhà hảo tâm chỉ cung cấp cho họ cách thức tìm kiếm sinh kế bền vững, phải để họ vươn lên thoát nghèo bằng năng lực bản thân với thái độ hăng hái và tích cực lao động sản xuất để thoát nghèo nhanh chóng và bền vững.

Cần gắn mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp giúp đỡ, hướng dẫn GN cho một  số hộ, xã, huyện cụ thể, phù hợp với địa bàn hoạt động cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đó. Phương thức chính để thực hiện là nên tiến hành khảo sát hộ gia đình và đồng thời có biện pháp hướng dẫn hộ làm ăn, xây dựng kinh tế, bởi lẽ do phương thức sản xuất, trình độ của đối tượng hộ nghèo thường rất thấp.

Bốn là, các huyện vùng miền núi cần chủ động nguồn vốn đối ứng để thực hiện các dự án, chương trình GNBV thông qua việc đa dạng hóa nguồn lực tài chính trong thực hiện chương trình GNBV trên địa bàn huyện mình quản lý.

Thứ ba, tăng cường sự phối hợp của các cấp chính quyền về thực hiện GNBV

Tăng cường sự phối hợp của các cấp chính quyền về thực hiện GNBV vùng miền núi, thời gian tới, tỉnh Nghệ An cần phải thực hiện các giải pháp sau:

Một là, cần tăng cường tính chủ động cho các huyện và xã được phép chủ động trong xây dựng chương trình lồng ghép các dự án, hợp phần GNBV  được triển khai  trên địa bàn, nhằm tận dụng được nguồn lực, tiết kiệm thời gian, tránh chồng chéo và lãng phí; tạo bước ngoặt trong phát triển sản xuất, kiến tạo sinh kế bền vững cho đồng bào các huyện vùng miền núi tỉnh Nghệ An. Nhờ vậy, mà có thể cung cấp cho người nghèo sự hỗ trợ tốt nhất, tạo điều kiện cho người nghèo tự bản thân vươn lên để thoát nghèo, làm giàu bằng chính năng lực của bản thân;

Hai là, cần tăng cường sự tham gia của các thành phần dân cư vào công cuộc GNBV theo tinh thần nhà nước và nhân dân cùng làm; trong đó Nhà nước chịu trách nhiệm xây dựng đường hướng, đầu tư, hỗ trợ trong xây dựng các công trình thiết thực  và có quy mô lớn, có ý nghĩa quan trọng tới phát triển KT-XH địa phương, còn người dân tham gia đóng góp bằng các nguồn lực có sẵn: ngày công lao động, đất đai hoặc các nguồn lực vật chất có sẵn khác ở địa phương. Cần thu hút sự tham gia thực hiện chương trình từ những người có sức ảnh hưởng trong cộng đồng dân cư ở vùng miền  núi như già làng, trưởng bản, người cao tuổi, người có uy tín, từ đó, tạo đà thu hút sự tham gia đông đảo của người dân, đặc biệt là những đối tượng thụ hưởng trực tiếp từ chương trình, chính sách GNBV của tỉnh, của địa phương.

Ba là, chính quyền tỉnh Nghệ An cần ra nghị quyết thực hiện việc  phân cấp  quản lý một cách linh hoạt, phù hợp với đặc thù, trình độ quản lý và khả năng chuyên môn của cán bộ các huyện, xã vùng miền núi; bổ sung xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cấp, ngành, tuyến trong thực hiện chính sách GNBV vùng miền núi trong thời gian tới. Đặc biệt, cần có cơ chế trao quyền cho cấp huyện, xã tùy theo trình độ và năng lực quản lý trong vấn đề quyết định và thực hiện đầu tư các công trình GN trên địa bàn;   xây dựng các chương trình thực hiện GNBV như hệ thống các chương trình nhằm khuyến nông, khuyến lâm, nhằm đào tạo, tập huấn kỹ thuật sản xuất phù hợp với đặc điểm sinh hoạt, sản xuất, canh tác của từng huyện vùng miền núi, từng vùng  dân cư sinh sống. Bên cạnh đó, để tạo sự phản biện cho quá trình thực hiện chính sách, cũng cần kêu gọi sự tham gia tích cực của người dân ở tất cả các khâu của quá trình GNBV vùng miền núi, nhất là trong khâu kiểm tra, giám sát của cộng đồng và các cấp chính quyền nhằm đảm bảo tính dân chủ ở cơ sở theo đúng nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Bốn là, cần hình thành cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ngành, đoàn  thể của tỉnh, huyện trong nghiên cứu, xây dựng, thực hiện chính sách GNBV  vùng  miền núi. Trong đó đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên thuộc Mặt trận trong các công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát các nội dung và quá trình thực hiện chính sách, chương trình GNBV tại vùng miền núi tỉnh Nghệ An.

Năm là, hoàn thiện bộ máy Ban Chỉ đạo GN cấp tỉnh và các cấp cơ sở để hoạt động của Ban được thực  hiện thường xuyên,  liên tục, có hiệu quả. Cần ban hành điều  lệ quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng chức danh, chức vụ và nâng cao trách nhiệm giải trình của Ban chỉ đạo GN các cấp, nhất là cấp tỉnh. Trong công tác tổ chức, cần liên tục nâng cao năng lực và kiện toàn các cơ quan giúp việc cho Ban chỉ đạo GN theo hướng hình thành bộ máy chuyên trách công tác GN nhưng không tăng biên chế được giao ở các cấp. Ví dụ như ở cấp tỉnh, Ban chỉ đạo GN là bộ phận chuyên  trách trực thuộc Sở LĐ-TBXH, giúp việc cho Ban Chỉ đạo GN của tỉnh, có thể bố trí từ 3   đến 5 cán bộ phụ trách, tránh trường hợp kiêm nhiệm nhiều chức vụ. Ở cấp huyện  có thể bố trí 1 đến 2 cán bộ biên chế phụ trách công tác GN, tùy thuộc vào tình hình thực tế và sự khó khăn về địa hình, độ bao phủ của các hộ nghèo trên toàn huyện. Ở cấp xã có thể bố trí 1 cán bộ hợp đồng (hưởng phụ cấp) để theo dõi tình hình GN trên địa bàn xã bên cạnh cán bộ công chức văn hóa –  xã  hội,  có  thể tận dụng các  vị trí  sẵn có như thành viên công chức thuộc hội cựu chiến binh, hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên…