Tổng quan tình hình FDI trên thế giới gần đây

FDI thế giới tăng mạnh nhưng chủ yếu ở các nước phát triển

Năm 1999, do ảnh hưởng của làn sóng sáp nhập và thôn tính luồng ra của FDI toàn cầu đạt 800 tỷ USD, tăng 16% so với năm1998. Các dấu hiệu hiện nay còn cho thấy luồng FDI năm 2000 có khả năng vượt mức 1000 tỷ USD.
Sau khoảng thời gian giảm sút năm 1998, luồng FDI vào các nước đang phát triển đã tăng trở lại :
Năm 1999, các nước đang phát triển thu hút được 208 tỷ USD FDI, tăng 16% so với năm 1998 và là mức tăng cao nhất từ trước tới nay. Tuy nhiên, tỷ trọng luồng FDI vào các nước đang phát triển so với tổng luồng FDI toàn thế giới bị giảm từ 38% năm 1997 xuống còn 24% năm 1999.

Năm 1999, các nước đang phát triển thu hút được 636 tỷ USD FDI, chiếm xấp xỉ 3/4 FDI toàn cầu. Mỹ và Anh là hai nước đứng đầu thế giới vè tiếp nhận FDI và đầu tư nước ngoài. Năm 1999, Anh đã vượt Mỹ trở thành nước có lượng đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế giới với 199 tỷ USD.

Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) thuộc EU trong năm 1999 đã đầu tư ra nước ngoài 510 tỷ USD, gần bằng 2/3 tổng luồng ra FDI của toàn thế giới. Trong khối EU, Anh, Pháp và Đức là ba nước đầu tư ra nước ngoài lớn nhất.

Năm 1999, luồng FDI vào Nhật Bản tăng gấp 4 lần so với năm 1998, đạt con ssó kỷ lục 13 tỷ USD. Đây là lượng FDI lớn nhất mà Nhật Bản nhận được từ trước đến nay, phần lớn lượng FDI nhận được là từ các vụ sát nhập và thôn tính giữa các công ty Nhật Bản với các công ty nước ngoài.

FDI tại Đông Nam á đã tăng trở lại và tại châu Mỹ –Latinh và Caribê bắt đầu tăng nhanh

Trái ngược với nhiều dự báo, năm1999, FDI vào Đông và Đông Nam á tăng 11%, đạt 93 tỷ USD, chủ yếu là vào các nước mới công nghiệp hoá (Hồng Kông-Trung Quốc, Hàn Quốc, Xingapo và Đài Loan), luồng FDi vào những nước này tăng gần 70%. Tại Hàn Quốc, luồng vào FDI tăng kỷ lục, đạt 10 tỷ USD. Luồng FDI vào Xingapo và Đài Loan đã tăng nhanh trở lại sau khi giảm mạnh vào năm 1998. Luồng FDI vào Hông Kông- nước tiếp nhận FDI lớn thứ hai trong khu vực hiện nay-tăng hơn 50%, đạt 23 tỷ USD, do năm 1998 các nhà đầu tư tại Hồng Kông và các nhà đầu tư nước ngoài tại Hồng Kông đã dấy lên làn sóng đầu tư trở lại và một lượng lớn lợi nhuận đã được tái đầu tư nhờ có sự thay đổi toàn diện hoạt động kinh tế tại đây.

Trái lại, luồng FDI vào 3 trong số 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua (Inđônêxia, Thái Lan và Philipin) lại giảm. Năm1999, FDI vào Trung Quốc, nước có lượng FDI trong 4 năm liền đều đạt 45 tỷ USD – giảm gần 8%, chỉ đạt hơn 40 tỷ USD. Những nước có thu nhập thấp tại khu vực Đông Nam á mà lâu nay vẫn phụ thuộc vào nguồn FDI của các nước khác trong khu vực tiếp tục lâm vào tình trạng khó khăn, do hoạt động đầu tư tại Châu á bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính.

Sự phục hồi luồng FDI vào khu vực này là do những nỗ lực mạnh mẽ trong việc thu hút FDI, bao gồm tự do hoá hơn nũa ở các ngành , cởi mở hơn đối với các hoạt đông sáp nhập và thôn tính xuyên quốc gia. Năm 1999, tại 5 nước (Inđônêxia, Malaixia, Philipin, Hàn Quốc và Thái Lan) chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng tại chính trong khu vực, tổng giá trị sáp nhập và thôn tính xuyên quốc gia đạt con ssố kỷ lục 15 tỷ USD. Các hoạt động sáp nhập thực sự trở thành một phương thức quan trọng để các công ty xuyên quốc gia đầu tư vào khu vực này. Trong giai đoạn 1997 –1999, trung bình mỗi năm khu vực này nhận được 20 tỷ USD từ các hoạt đông sáp nhập và thôn tính, so với mức 7 tỷ USD trong giai đoạn 1994 – 1996.

Năm 1999, FDI vào khu vực Nam á giảm 13%, đạt 3,2 tỷ USD. Luồng FDI vào ấn Độ nước tiếp nhận FDI lớn nhất tại khu vực là 2,2 tỷ USD giảm 17% so với năm 1998.

Năm 1999, FDI vào Trung á giảm đôi chút, đạt 2,8 tỷ USD, làm mất đi đà tăng trưởng đã có được trong thời kỳ đầu của chương trình tự do hoá và cải cách kinh tế.

FDI tại các quốc đảo Thái Bình Dương đã có những bước tiến triển. Trong năm 1999, tổng giá trị FDI tại các quốc gia này đạt 250 triệu USD, còn tại Tây á, luồng FDI vào đạt 6,7 tỷ USD, trong đó Arập-Xêút là nước tiếp nhận phần lớn các nguồn đầu tư mới.
Luồng FDI ra từ các nước đang phát triển tại Châu á đã tăng trở lại sau thời kỳ suy giảm do cuộc khủng hoảng tài chính khu vực. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn còn thấp hơn so với thời kỳ trước khủng hoảng. Hồng Kông vẫn là nước đầu tư ra nước ngoài nhiều nhất, chiếm hơn 1/2 tổng giá trị luồng FDI ra của cả khu vực.

Trong năm 1999, FDI vào Châu Mỹ Latinh và vùng biển Caribê tiếp tục tăng, đạt 90 tỷ USD, một mức kỷ lục mới tăng hơn 23% so với năm 1998. Braxin là nước tiếp nhận FDI lớn nhất trong khu vực với 4 năm liền FDI tăng đạt 31 tỷ USD năm 1999, chủ yếu là trong các lĩnh vực phi thương mại và các ngành công nghiệp chế tạo phục vụ thị trường trong nước. Năm1999, FDI vào Achentina tăng gấp 3 lần, đạt 23 tỷ USD,vượt qua Mêhicô trở thành nước tiếp nhận FDI lớn thứ hai trong khu vực.

FDI vào Trung và Đông Âu tăng chậm, Châu Phi tiếp tục là khu vực nhận ít đầu tư nhất

Năm 1999 là năm thứ ba FDI vào Trung và Đông Âu tăng liên tục, đạt 23 tỷ USD. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chỉ nhận được chưa đầy3% FDI toàn thế giới. Giống như năm 1998, Ba Lan, Cộng Hoà Séc và Liên Bang Nga tiếp tục là 3 nước nhận FDI nhiều nhất. Đối với Nga, tuy FDI đã tăng trở lại nhưng mới chỉ bằng một nửa so với mức 6 tỷ USD năm 1997. So với quy mô của nền kinh tế thì Estonia, Hungari và Cộng Hoà Séc là những nước đứng đầu trong khu vực về tiếp nhận FDI. Các TNCs của EU là những nhà đầu tư quan trọng tại khu vực Trung và

Đông Âu và lĩnh vực dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng hơn so với lĩnh vực chế tạo.
Mặc dù FDI vào Châu Phi đã tăng đôi chút, từ 8 tỷ USD năm 1998 lên 10 tỷ USD năm 1999 nhưng hiệu năng kinh tế của khu vực này vẫn mờ nhạt. Tuy nhiên, bước phát triển đáng mừng là FDI vào Châu Phi đã được duy trì ở mức cao hơn so với nhưng năm đầu của thập kỷ 90 do những cố gắng bền bỉ của nhiều nước nhằm cải thiện môi trường kinh doanh. Những năm gần đây, một số nước như : Ăngôla, Ai Cập, Marốc, Nigiêria, Nam Phi, Tuynizi đã thu hút được một lượng lớn FDI.Đặc biệt Ăngôla và Ai Cập đã rất thành công, vượt qua Nigiêria trở thành nước tiếp nhận FDI lớn nhất trong khu vực năm 1999.
Mặc dù mức FDI nói chung của phần lớn các nước trong khu vực còn rất thấp, song cũng đáng kể nếu so với quy mô của nền kinh tế, với thước đo là GDP và tổng đầu tư trong nước.

Kết quả cuộc điều tra 296 công ty xuyên quốc gia(TNCs) lớn nhất thế giới, do UNTAD và phòng Thương Mại Quốc tế phối hợp tiến hành vào đầu năm 2000, cho thấy luồng FDI vào Châu Phi gần đây tăng đôi chút và sẽ tiếp tục tăng trong tương lai.
Hơn 43% các công ty được điều tra cho rằng triển vọng chung của khu vực Châu Phi trong việc thu hút FDI sẽ được cải thiện trong vòng 3-5 năm tới.

Kết quả cuộc điều tra nói chung phù hợp với một cuộc diều tra trước đó do cơ quan xúc tiến đầu tư ở Châu Phi tiến hành năm 1999. Tuy nhiên, có những khác biệt đáng lưu ý về những vấn đề quan trọng có liên quan đến vấn đề quyết định đầu tư.
Trong năm 1999 các vụ sáp nhập thôn tính xuyên quốc gia tăng khoảng 35% theo đánh giá của UNTAD tổng giá trị của hơn 6000 vụ sáp nhập trong năm đạt 720 tỷ USD. Giá trị các vụ sáp nhập và thôn tính xuyên quốc gia chiếm hơn 80% tổng giá trị FDI trên thế giới, có thể nói sát nhập là nguồn FDI chủ yếu cho các nước đang phát triển.