Tổng quan về điều hành theo mục tiêu khối lượng (monetary based/targeting)

Khái niệm: Điều hành CSTT theo mục tiêu khối lượng là việc NHTW  đặt mục tiêu hoạt động là các biến số tiền tệ (dự trữ R, MB…), mục tiêu trung gian là các chỉ  tiêu tổng cung tiền (M1, M2, M3…, hoặc tín dụng) và thông qua các công cụ CSTT để điều hành nhằm đạt  được mục tiêu  của  CSTT.  Cơ chế điều hành này dựa trên các yếu  tố sau: (i) NHTW căn cứ vào  chỉ  tiêu khối  lƣợng  tiền tệ  để  điều hành; (ii) Công bố mục tiêu đối với chỉ tiêu khối lƣợng tiền tệ  đã lựa chọn; (iii)  Có  cơ  chế giải trình khi chỉ tiêu thực tế biến động khác xa so với hệ thống mục tiêu.

Phần lớn các quốc  gia lựa chọn điều hành  CSTT theo  mục  tiêu khối  lƣợng là do lo ngại về lạm phát cao nên cần có  biện pháp  hữu  hiệu kiểm soát lạm phát  và  truyền  thông dễ dàng với công chúng để neo giữ kỳ vọng  lạm  phát.  Trong  thập kỷ 1970 khi khủng hoảng dầu thô xảy ra, giá dầu tăng vọt khiến  lạm  phát  toàn cầu tăng mạnh,  các nƣớc nƣớc công nghiệp Anh, Mỹ, Canada, Nhật, Đức, Thụy Sỹ đã áp dụng cơ chế điều hành theo mục tiêu khối lƣợng. Tuy nhiên,  Mỹ,  Anh,  Canada  đã phát  sinh  vấn  đề  bất cập do mối liên hệ giữa mục tiêu trung gian (M1, M2, M3) đến các biến mục tiêu cuối cùng (thu nhập danh nghĩa, lạm phát)  không  ổn định và  chặt  chẽ. Do đó, NHTW có thể đạt đƣợc mục tiêu M1 nhƣng cũng không đảm bảo đạt đƣợc mục tiêu lạm phát.

Vì vậy, mục tiêu khối lƣợng thƣờng đƣợc lựa chọn ở các quốc gia có thị trƣờng tiền tệ hoạt động kém hiệu quả hoặc chƣa phát triển, và thiếu các thị  trƣờng chứng  khoán, phái sinh. Khi đó, tác động CSTT đƣợc  truyền dẫn  chủ yếu qua  những  thay  đổi về khối lƣợng. Điều này lý giải tại sao cho đến nay  các  biến số  của mục  tiêu khối  lƣợng chủ yếu đƣợc tìm thấy ở các nƣớc kém phát triển hoặc các nƣớc đang trong giai đoạn chuyển đổi. Hơn nữa, đa số các quốc  gia này  còn có các hạn chế về  luồng vốn và  quy định tài chính nên góp phần tạo  sự ổn định cho  số  nhân  tiền tệ  (m)  và  hàm cầu  tiền. Mục tiêu khối lƣợng chỉ có thể thành công nếu NHTW  truyền thông tốt về điều hành  CSTT  và  nghiêm  túc  theo  đuổi  mục  tiêu ổn định  giá  cả trong  dài  hạn. Vì vậy đối với các nƣớc mới  nổi  sau này,  mục  tiêu tiền tệ gần như không thể đạt được hiệu  quả như mong muốn.

Ưu, nhược điểm

Qua quá trình các  nước  lựa chọn điều hành CSTT theo mục  tiêu khối  lượng tiền tệ và sau đó chuyển dần sang các khung  khổ  điều  hành  khác  cho  thấy  phương  thức điều hành này có ưu điểm trong bối cảnh thị trường trải qua thời kỳ biến động, đòi hỏi phải nhanh chóng kiểm soát lạm phát nhưng nhược điểm là khó  kiểm  soát  lạm  phát trong trung dài hạn và hiệu lực của CSTT  sẽ  giảm  dần  khi  thị  trường tài  chính phát triển phức tạp. Cụ thế:

  • Ưu điểm

So với thời kỳ trước đây khi mà nhiều nước còn đặt mục tiêu tỷ giá, cơ chế điều hành theo mục  tiêu tiền tệ  có ưu điểm là điều hành CSTT độc lập với  chính sách của  các nước khác, theo đó đảm bảo chú trọng xử lý các vấn đề kinh tế trong nước nhƣ lạm phát hay biến động tăng trưởng. Lựa chọn điều hành theo mục tiêu tiền tệ có ưu điểm:

    • Mục tiêu tiền tệ có thể quan sát được trong vòng vài  tuần với  con số cụ thể, do đó có thể truyền thông tức thời về quan điểm điều hành CSTT đến công chúng.
    • Thường có tác động nhanh và mạnh trong việc kiểm  soát  kỳ  vọng  lạm  phát trong bối cảnh lạm phát cao với  điều kiện  NHTW  kiên định và đạt được mục  tiêu về  tiền tệ đề
    • Các mục tiêu tiền tệ cũng làm tăng trách nhiệm giải  trình để  giữ cho  kỳ vọng lạm phát ở mức thấp. Nếu đƣợc thực thi đúng cách, có thể  giúp các  nhà  hoạch định  chính sách tránh rơi vào bẫy thiếu nhất quán về thời
  • Nhược điểm
    • Những ưu điểm trên chỉ phát huy đƣợc trong điều kiện nền kinh tế thị trường đảm bảo mối liên hệ chặt  chẽ  và  đáng  tin cậy giữa các biến mục  tiêu tiền tệ trung gian và các biến số mục tiêu cuối cùng của
    • Khi nền kinh tế và các loại hàng hóa,  dịch  vụ  tài  chính  ngày  càng  phát  triển, hàm cầu tiền thƣờng có xu hƣớng thay đổi  dẫn  đến nhu  cầu tiền thƣờng biến động  mạnh hơn (Mỹ, Anh, Đức, vv). Do đó, việc đặt  mục  tiêu cung tiền ít có hiệu lực trong  việc kiểm soát lãi suất và các biến mục tiêu cuối  cùng (trƣớc  đây, cầu tiền cơ bản ổn định, lãi suất chủ yếu đƣợc quyết định bởi cung  tiền nhưng khi  thị  trường phát  triển cầu tiền biến động,  lãi  suất  biến động khó  dự báo  vì  phụ thuộc  cả và  cung và  cầu tiền  là hai đại lượng đều biến động).
    • Mặc dù mục tiêu tiền tệ dễ hiểu nhƣng do tính chất  phức  tạp  của biến động  cung, cầu tiền nên về mặt kỹ thuật không dễ giải thích với công chúng về  nguyên  nhân không đạt mục tiêu tiền tệ, do đó đỏi hỏi công chúng phải có sự tin tƣởng cao vào quyết tâm kiểm soát của NHTW và có hiểu biết  tốt về  tài  chính (như trường hợp Thụy Sỹ và Đức).