Tổng quan về mô hình TAM

Xuất phát từ thực tế là có nhiều hệ thống thất bại trong quá trình thực hiện, các nhà nghiên cứu cố gắng tìm cách lý giải, tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu này thất bại trong việc đưa ra một thước đo đáng tin cậy cho việc đánh giá sự chấp nhận hay từ chối hệ thống (Davis, 1989). Nghiên cứu về chấp nhận công nghệ của Davis được trình bày lần đầu trong luận án Tiến Sĩ của ông tại trường MIT năm 1985, nghiên cứu này dựa trên nghiên cứu của Fishbein và Ajzen (1975) và các nghiên cứu liên quan về Lý thuyết Hành động Hợp lý (the Theory of Reasoned Action), sau đó, Davis đã xây dựng mô hình ý niệm về TAM (Davis, 1986 theo (Davis, 1989)).

Với mô hình chấp nhận công nghệ TAM, theo Davis, người dùng chấp nhận công nghệ dựa trên nhận thức dẫn đến ý định và hành vi. Ba thành phần quan trọng trong mô hình TAM của Davis (1989) bao gồm: Nhận thức về tính dễ sử dụng, nhận thức về tính hữu ích và thái độ đối với việc sử dụng. Mô hình được xây dựng dựa trên quan điểm của giả thuyết: thái độ của người dùng tác động đến sự chấp nhận hay từ chối sử dụng công nghệ thông tin; đồng thời nhận thức về tính dễ dùng và nhận thức về tính hữu ích tác động đến thái độ của người dùng, và khi cho rằng công nghệ dễ sử dụng thì người dùng sẽ cảm nhận được tính hữu ích của công nghệ. Quan điểm chấp nhận công nghệ theo mô hình TAM được khá nhiều nhà nghiên cứu vận dụng và trích dẫn khi nghiên cứu và giải thích hành vi sử dụng công nghệ (Y. Lee, Kozar, & Larsen, 2003). Tuy nhiên, theo

Lee và cộng sự (2003) mô hình này không quan tâm nhiều đến các vấn đề thực sự của việc chấp nhận công nghệ, cũng như không thật sự giải thích các yếu tố tác động đến nhận thức của người dùng. Tiếp nối các nghiên cứu vận dụng TAM, có 2 phiên bản nâng cấp: TAM2 (Venkatesh & Davis, 2000) và Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ – Unified Theory of Acceptance and Use of Technology (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003). Mô hình TAM3 được đề xuất trong bối cảnh thương mại điện tử với việc bao gồm những tác động của sự tin tưởng và nhận thức về rủi ro hệ thống (Venkatesh & Bala, 2008).