Tổng quan về nợ công của Mỹ

  1. 1.     Diễn biến nợ công của Mỹ

Trong lịch sử nợ công của nước Mỹ, đã có hai lần đạt mức cao kỷ lục: sau Thế chiến thứ 2 đạt mức 110%/GDP và lần này (2011) với 14.300 tỷ USD, gần bằng 100%/GDP. Con số này vượt quá cao so với mức an toàn của nền kinh tế, đe dọa sự phục hồi kinh tế của nước Mỹ và kinh tế toàn cầu khiến không chỉ nước Mỹ mà cả thế giới lo ngại.

Theo số liệu báo ra ngày 8/4/2012 cuả tờ báo http://vov.vn cho thấy Nợ liên bang của Mỹ tính đến ngày 2/8/2011 đã vượt mức 238 tỷ USD/ngày.

Bộ Tài chính Mỹ hôm 3/8/2011 cho biết, nợ công của nước này đã vượt 100% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), ngay khi lưỡng viện Quốc hội Mỹ thông qua dự luật về nâng trần nợ công và cắt giảm ngân sách.  Tình hình tài chính công do Bộ Tài chính Mỹ công bố, nợ liên bang của Mỹ tính đến ngày 2/8/2011 đã vượt mức 238 tỷ USD/ngày, đạt 14.580,7 tỷ USD, vượt GDP của năm 2010 (14.526,5 tỷ USD). Tuy nhiên, theo những đánh giá gần đây của Chính phủ Mỹ, GDP của nước này trong năm 2011 hiện cao hơn con số này, cụ thể giá trị sản lượng của nền kinh tế lớn nhất thế giới trong quý 2/2011 tương ứng với mức tăng trưởng hàng năm là 15.038 tỷ USD.

Căn cứ vào các dữ liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), như vậy Mỹ đã gia nhập lại nhóm các nước có nợ công cao hơn GDP, gồm Nhật Bản (229%), Hy Lạp (152%), Jamaica (137%), Lebanon (134%), Italy (120%), Ireland (114%) và cả Iceland (103%).

Trên thực tế, chúng ta cùng xem xét một điều rằng nếu Mỹ vỡ nợ ai là người chịu thiệt hại lớn nhất từ cú sốc trên? Chắc chắn là chính Mỹ, mà đầu tiên là các lãnh đạo của nhà trắng.

“Bóng ma vỡ nợ”

“Bóng ma vỡ nợ” đang bao phủ khắp Nhà Trắng bởi nợ công của Chính phủ Mỹ đã lên tới hơn 14 nghìn tỷ USD, mức kịch trần giới hạn vay nợ.

Ngày 25-7, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cảnh báo, Mỹ sẽ đối mặt với “cú sốc nặng” nếu nước này không sớm nâng trần nợ công. Trong một báo cáo về kinh tế Mỹ, các chuyên gia IMF tuyên bố cần nhanh chóng nâng trần nợ liên bang để tránh một cú sốc nặng cho nền kinh tế Mỹ và các thị trường tài chính thế giới. Ban giám đốc IMF cũng kêu gọi nhà chức trách Mỹ cắt giảm chi tiêu từng bước để tránh bị đánh tụt hạng tín nhiệm tài chính.

  1. 2.         Nguyên nhân

Nguyên nhân của tình trạng nợ công tăng cao là chính quyền đã “vung tay quá trán”, ngay từ thời người tiền nhiệm là cựu Tổng thống George W. Bush, số nợ đã tăng thêm 4.900 tỷ USD; thời của Tổng thống Obama con số này đã là 2.400 tỷ USD.

Cụ thể, ngoài Chương trình cải tổ hệ thống y tế quốc gia, nước Mỹ còn phải chịu gánh nặng về bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm vỡ nợ, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ năm 2008;

Chi tiêu cho các gói kích thích kinh tế với hơn 900 tỷ USD nhưng không mấy hiệu quả, trong khi nguồn thu vẫn bị thu hẹp do tác động từ suy thoái kinh tế cũng là nguyên nhân làm bội chi ngân sách.

Mặt khác phải kể đến là chi tiêu cho các cuộc chiến ở Iraq, Ápganixtan, Libya cũng tác động không nhỏ đến nợ công và sự phục hồi kinh tế của Mỹ. Chỉ tính riêng chi tiêu cho hai cuộc chiến ở Iraq, Ápganixtan, Mỹ đã tốn gần 4 tỷ USD;

  1. 3.         Hậu quả

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã bộc lộ mặt trái không mong muốn của nợ công nước Mỹ và nhiều nước khác. Đối với những quốc gia sở hữu nhiều trái phiếu Chính phủ Mỹ như Trung Quốc và Nhật Bản mặc dù vẫn lớn tiếng trấn an rằng: “Đó vẫn là công cụ dự trữ quan trọng bậc nhất” nhưng trên thực tế, tỷ trọng trái phiếu Chính phủ Mỹ trong dự trữ quốc gia đã suy giảm rõ rệt để bổ sung thêm vàng, góp phần tạo nên cơn sốt vàng dữ dội nhất trong lịch sử suốt hai tuần qua. Chẳng hạn, Nhật Bản giảm từ 90% xuống 75% – 80%, Brazin giảm từ 90% xuống 81%; Trung Quốc giảm từ 90%  xuống 80%.

Trong vòng 7 tuần sau khi nợ công chạm ngưỡng tuần, Chính phủ Mỹ có nguy cơ vỡ nợ với một số khoản; hàng loạt khoản chi tiêu ngân sách sẽ phải rút bớt, tạm hoãn hoặc dừng hẳn, trong đó có cả lương quân đội và trợ cấp về hưu, y tế, hoàn thuế…

Khi nợ công vượt giới hạn mà Quốc hội không nâng ngưỡng giới hạn này, các khoản vay của Chính phủ sẽ phải chịu lãi suất cao hơn, trong khi nhà cửa sẽ tiếp tục mất giá và các khoản tiết kiệm hay lương hưu của người dân Mỹ sẽ bị hao hụt.

Theo số liệu của FDIC, nợ liên bang đã tăng gấp đôi trong 7 năm qua lên mức 14 nghìn tỷ USD, hậu quả trực tiếp từ khủng hoảng tài chính và việc chính phủ không muốn hạn chế thâm hụt cấu trúc dài hạn. Nếu không quyết sách nào được đưa ra, nợ liên bang của Mỹ có thể tăng từ mức 62% GDP vào năm nay lên mức 185% GDP vào năm 2035.

Khi hơn 70% trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ do nhà đầu tư tư nhân bên ngoài nắm giữ đáo hạn trong 5 năm tới, việc nhà đầu tư kém tin tưởng vào nước Mỹ sẽ khiến chi phí lãi vay của chính phủ và lĩnh vực tư nhân Mỹ tăng lên.

Thêm vào đó, theo thông báo của Bộ Tài chính Mỹ, tính đến tháng một Trung Quốc đã bán ròng trái phiếu chính phủ Mỹ trong 3 tháng liên tiếp. Hàng loạt các quĩ đầu tư lớn nhất thế giới về trái phiếu chính phủ Mỹ cũng bắt đầu bán tháo. Tổng số trái phiếu chính phủ Mỹ mà Trung Quốc nắm giữ trong tháng một giảm 5,4 tỷ USD, xuống còn 1.155 tỷ USD, giảm liên tục trong ba tháng liên tiếp. Tháng 12 năm ngoái, Trung Quốc đã bán ròng 4 tỷ USD trái phiếu chính phủ Mỹ. Trong tháng 10/2010, số trái phiếu chính phủ Mỹ mà Trung Quốc sở hữu đã giảm xuống mức kỷ lục 1.175 tỷ USD.

Các ngân hàng trung ương nước ngoài nắm giữ 3.150 tỷ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ trong tổng số 4.440 tỷ USD lưu hành ở nước ngoài.

Chưa hết, ngay cả quỹ đầu tư Pimco – quỹ đầu tư lớn nhất thế giới về trái phiếu chính phủ và là một chi nhánh của tập đoàn tài chính bảo hiểm Allianz khổng lồ – cũng đang bán dần trái phiếu chính phủ Mỹ. Pimco dự tính giá trái phiếu chính phủ Mỹ sẽ đột ngột giảm mạnh, khi Ngân hàng Trung ương Mỹ(FED)không còn tiếp tục mua trái phiếu chính phủ kể từ cuối tháng 6.

Nếu phân tích về con số, thâm hụt ngân sách của Mỹ trong những năm gần đây đều là con số khổng lồ. Năm 2009 thâm hụt 1.420 tỷ USD, năm 2010 giảm xuống còn 1.290 tỷ USD, nhưng năm 2011 rất có thể thâm hụt đạt tới 9,8% GDP tương đương 1.450 tỷ USD.

Bội chi ngân sách, mức trần nợ công dâng lên đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế: Đồng USD mất giá làm cho các chỉ số niềm tin cả trong và ngoài nước suy giảm, đồng USD không đi vào sản xuất kinh doanh mà tìm nơi trú ẩn là vàng, làm cho giá vàng tăng vọt… Như vậy, lạm phát, giá cả tăng, thất nghiệp luôn ở mức cao, số việc làm tạo ra không đáp ứng nhu cầu, đời sống nhân dân giảm sút, uy tín quốc tế của Mỹ suy giảm… đó là hậu quả mà nền kinh tế Mỹ đang phải gánh chịu.

Những thách thức đặt ra đối với các nước phát triển về nợ công

Đầu tiên, Chính phủ các nước dễ tổn thương trước những thay đổi nhanh chóng và bất ngờ trong hành vi của nhà đầu tư, và hệ quả là những chính sách cũng bị thay đổi theo để kịp thời thích nghi. Hơn thế nữa, các nhà đầu tư sẽ yêu cầu lãi suất cao hơn hoặc từ chối cho vay mượn trước nỗi lo về khả năng vỡ nợ ở các quốc gia rủi ro cao. Hiện ba nước trong khu vực eurozone là Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha đang phải gánh chịu áp lực này; tuy nhiên các nước lớn khác trong khu vực eurozone và IMF đã cho các nước này vay mượn để tránh nguy cơ vỡ nợ.

Thứ hai, sự cạnh tranh vốn của chính phủ cho những khoản nợ vay sẽ đẩy lãi suất lên cao, gây khó khăn cho khả năng tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp, nhà đầu tư tư nhân.

Thứ ba, mức nợ công cao sẽ hạn chế khả năng ứng phó với những khủng hoảng không mong muốn, ví dụ như thảm họa thiên nhiên. Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng hồi phục nhanh và bền vững của nền kinh tế trong nước.