Triển vọng quan hệ đối ngoại của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI

1. Những thuận lợi và khó khăn

* Thuận lợi.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng ta, với bản lính chính trị vững vàng, sau 15 năm đổi mới Đảng dẫn dắt dân tộc ta thoát khỏi khủng hoảng trầm trọng và giành được những thành tựu to lớn và quan trọng, làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh lên nhiều. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường. Đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên lao động. Nhân dân ta có nhiều phẩm chất cao quy. Tình hình chính trị – xã hội ổn địng. Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn, công nhệ mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là cơ hội lớn để chúng ta tạo ra bước phát triển mới.

Đầu thập kỷ 90, Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, ký kết hiệp địng Paris về Campuchia, cải thiện quan hệ với các nước phương Tây, ASEAN và các tổ chức tiền tệ quốc tế.

Hiện nay quan hệ đối ngoại của Việt Nam đã được rộng mở. Việt Nam bình thường quan hệ với các nước lớn, với hầu hết các chủ thể trong quan hệ quốc tế. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, các tổ chức quốc tế chủ chốt. Vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, đây là nền tảng, thuận lợi cho việc đặt nền móng cho đường lôứi đối ngoại của Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI.

* Khó khăn.

Bên cạnh những thuận lợi, cơ hội lớn chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức.

Thách thức lớn nhất là tình trạng thấp kém vủa nền kinh tế, khoảng cách về trình độ phát triển giữa nước ta với nhiều nước trên thế giới còn rất lớn, trong khi đó đất nước đi lên trong điều kiện cuộc cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, trong bộ máy của Đảng và Nhà nước tệ quan liên, tham nhũng và sự thoái hoá về phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên chưa được đẩy lùi. Bốn nguy cơ mà Đảng ta từng cảnh báo vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp. Các nguy cơ này đan xen và tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào.

Bên cạnh đó về công tác đối ngoại của Việt Nam cũng còn nhiều tồn tại đáng lưu ý:

Sự tham gia của Việt Nam vào các tổ chức đa phương ở khu vực trên thế giới còn nhiều hạn chế. Một phần do tình độ tổ chức, quản lý và do thực lực kinh tế có hạn. Nhưng cần phải khẳng định thêm rằng trong tương lai sự tham gia này là rất cần thiết.

Bên cạnh đó việc nghiên cứu dự báo chiến lược của chúng ta còn chưa được đầu tư thích đáng. Bởi nếu không dự báo được tình hình lường trước những nguy cơ, đe doạ có thể xảy ra, sẽ rất khó khăn cho chúng ta nếu các thế lực thù địch thay đổi chiến lược chống phá cách mạnh Việt Nam.

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á vừa qua đã và đang nhắc nhở chúng ta về tinh thần độc lập tự chủ giảm bớt phụ thuộc vào bên ngoài, bởi nếu phục thuộc quá nhiều vào nước ngoài, khi học cắt giảm liên kết kinh tế rất dễ dẫn tới mất ổn định về chính trị.

Mặt khác phải dự báo được nhu cầu, sở thích của thị trường thế giới để có chủ trương đầu tư sản xuất trong nước thích hợp mới tăng được khả năng cạnh tranh. Chúng ta phải năng động, nhạy bén hơn trong việc tìm kiếm thị trường và nắm bắt thông tin kinh tế đối ngoại tạo điều kiện định hướng cho các doanh nghiệp trong nước.

Tựu trung lại, hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nước ta đã đạt được những bước tiến căn bản tạo nền móng vững chắc cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên trong một thế giới sôi động, phát triển như vũ bão hiện nay, tiềm ẩn rất nhiều những thức thức. Việt Nam có tận dụng được thời cơ thuận lợi hay không , có vượt qua được những trở ngại thác thức đưa đất nước tiến vào thế kỳ 21 hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào đường lối phát triển đất nước nói chung và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta nói riêng.  

3.2 Triển vọng của quan hệ đối ngoại của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI

Chúng ta tự hào về những thành tựu của Đảng và Nhà nước ta giành được trong 15 năm đổi mới, chúng ta vững tin vào tiền đồ của đất nước những năm tới.

Tình hình thế giới với nhiều mối liên hệ luôn vận động phát triển biến đổi liên tục và phức tạp. Tuy nhiên những năm tới vẫn là kỷ nguyên của khoa học và công nghệ. Kinh tế tri thức sẽ chiếm vị trí ngày càng lớn trong quá trình phát triển. Toàn cầu hoá là một xu thế khác quan ngày càng có nhiều nước tham gia, đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới, biểu hiện dưới những hình thái và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển có mặt sâu sắc hơn. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, lúc hoàn hoãn, lúc găy gắt. Chủ nghĩa tư bản hiện đại còn tiếp tục tự điều chỉnh, nắm và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, song không khắc phục được những mâu thuẫn vốn có. Các quốc gia độc lập sẽ ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con đường phát triển cuả mình, chống lại sự áp đặt can thiệp và xâm lược của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hoá dân tộc. Chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào nhưng vẫn cos điều kiện và khả năng để phục hồi và phát triển. Tính chất của thời đại vẫn không thay đổi. Lịch sử thế giới đã đang và sẽ còn trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật biến hoá của lịch sử.

Những năm gấn đây ít có khả năng diễn ra chiến tranh thế giới chiến tranh tổng lực dùng vũ khí hạt nhân và vũ khí giết người hàng loạt. hoà bình và hợp tác vẫn là một xu thế lớn phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia dân tộc. Nhưng những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, dân tộc, tôn giáo vẫn xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Các dân tộc đấu tranh cho hoà bình phát triển chống cường quyền, áp đặt phấn đấu vì dân chủ dân sinh tiến bộ và công bằng xã hội sẽ có những bước tiến lớn. Khu vực Đông Nam á, Châu á – Thái Bình Dương vẫn sản xuất là khu vực phát triển năng động và chứa nhiều nhân tố ổn định.

* Đứng trước tình hình đó vẫn đề đặt ra cho quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong những năm tới phải nắm bắt được cơ hội, vượt qua thách thức hoà bình cùng đường lối phát triển chung của đất nước.

Quan hệ đối ngoại của chúng ta trong thời gian tới vẫn sẽ tiếp tục tạo môi trường hoà bình và điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo về tổ quốc, đồng thời góp phần tích cức vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Mở rộng quan hệ nhiều mặt song phương và đa phương với các tổ chức quốc tế và khu vực theo các nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không dùng vữ lực và đe doạ sử dụng vũ lực, bình đẳn và cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, chống mọi hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền.

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái. Thực hiện các biện pháp  đẩy mạnh chuyển dịch co cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế – xã hội, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế, bồi dưỡng, rèn luyện năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao và kinh tế đối ngoại.

Tăng cường công tác thông tin, làm tối cong tác nghiên cứu và dự báo tình hình khu vực và thế giới, kịp thời có chủ trương, chính sách thích hợp khi tình hình thay đổi.

Coi trọng và ra sức phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước lãng giềng. Mở rộng quan hệ với các nước trong tổ chức ASEAN, từng bước nâng cao hiệu quả và chất lượng của sự hợp tác, phấn đấu xây dựng Đông Nam á thành một khu vực hoà bình, ổn định hợp tác cùng phát triển, không có vũ khí hạt nhân.

Tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển ở Châu Phi, Trung Đông và Mỹ La Tinh, với phong trào không liên kết, ủng hộ lẫn nhau cùng phát triển, phối hợp bảo vệ lợi ích chính đáng của nhau.

Thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nước phát triển và các tổ chức quốc tế.

Chủ động tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu. Tham gia ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới nhằm loại trờ vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học và những phương tiện chiến tranh hiện đại khác giết người hàng loạt, bảo vệ hoà bình, chống nguy cơ chiến tranh và chay đua vũ trang, chóng chính sách cường quyền, can thiệp vào công việc nội bộ của nhau của các nước bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự lựa chọn con đường phát triển của mỗi dân tộc trên thế giới, góp phần xây dựng trật tự chính trị, kinh tế quốc tế dân chủ, công bằng hợp lý và ổn định.

Củng cố và quan hệ đoàn kết và hợp tác với các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ trên thế giới.

Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền. Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, góp phần thúc đẩy giao lưu giữa các dân tộc làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ hơn đất nước, con người, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta và công cuộc đổi mới công nghiệp hoá Việt Nam; tranh thủ sự đồng tính ủng hộ và hợp tác rộng rãi của nhân dân các nước với nhân dân ta; góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình ổn định hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác thông tin và văn hoá đối ngoại.

Kết hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và ngoại giao nhân dân. hoàn thiện cơ chế quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại tạo thành sức mạnh tổng hợp trên lĩnh vực này.