Tương lai của WTO: Những vấn đề còn tồn tại và Vòng đàm phán Đô-ha

Còn rất nhiều việc phải giải quyết trong thương mại quốc tế . Bốn vấn đề lớn đang là trọng tâm của chương trình nghị sự của WTO hiện nay là sự gia tăng các chính sách chống bán phá giá, mức độ bảo hộ cao trong nông nghiệp, sự thiếu hụt các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại nhiều quốc gia, và sự tăng cao liên tục của mức thuế suất đối với các sản phẩm phi nông nghiệp và dịch vụ tại nhiều nước.

Các biện pháp chống bán phá giá.

Các biện pháp chống bán phá giá nở rộ trong suốt thập kỷ 1990. Các quy tắc của WTO cho phép các quốc gia áp đặt thuế chống bán phá giá lên hàng hóa nước ngoài được bán rẻ hơn so với giá tại thị trường nước xuất khẩu, hoặc thấp hơn mức chi phí sản xuất, khi các nhà sản xuất trong nước có thể chứng minh rằng họ đang chịu thiệt hại. Tuy nhiên, khái niệm khá mơ hồ về những gì cấu thành lên “bán phá giá” đã chứng tỏ là một kẽ hở để nhiều nước khai thác nhằm theo đuổi chủ nghĩa bảo hộ.

Giữa giai đoạn từ năm 1995 đến giữa năm 2006, các thành viên WTO đã báo cáo thực hiện khoảng 2.938 các hành động chống bán phá giá lên tổ chức này. Ấn Độ là nước đứng đầu trong việc đề xuất các  hành động chống bán phá giá, khoảng 448 trường hợp; EU khoảng 345 trường hợp trong cùng giai đoạn, và Hoa Kỳ khoảng 366 trường hợp. Các hành động chống bán phá giá dường như chỉ tập trung vào một khu vực nhất định của nền kinh tế ví dụ như các ngành sản xuất kim loại cơ bản (ví dụ nhôm, thép), hóa chất, nhựa, và các thiết bị điện, thiết bị máy móc. Những lĩnh vực này chiếm khoảng 70% tổng số tất cả các hành động chống bán phá giá được báo lên WTO. Bốn khu vực này kể từ năm 1995 đặc trưng bởi các giai đoạn cạnh tranh khốc liệt và dư thừa năng lực sản xuất, dẫn tới giá bán và lợi nhuận thấp (hoặc thua lỗ) cho các công ty trong các ngành này. Do vậy, không có gì là bất hợp lý, khi giả thiết rằng mức độ cao của các hành động chống bán phá giá trong những ngành này thể hiện một nỗ lực của những nhà sản xuất bị bao vây trong việc sử dụng các tiến trình chính trị tại nước của họ nhằm tìm kiếm sự bảo hộ khỏi những đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài, những đối tượng mà họ cáo buộc đang tham gia vào quá trình cạnh tranh không công bằng. Trong khi  một số cáo buộc này có thể có giá trị của nó, quá trình này có thể được chính trị hóa khi đại diện của các doanh nghiệp và những người làm công của họ vận động hành lang các quan chức chính phủ để bảo vệ công việc trong nước khỏi “sự cạnh tranh không công bằng từ nước ngoài” và các quan chức chính phủ, quan tâm tới nhu cầu giành được phiếu bầu trong các cuộc bầu cử trong tương lai, bắt buộc đẩy mạnh các hành động chống bán phá giá. WTO rõ ràng rất quan tâm tới xu hướng này, cho rằng nó phản ánh các xu hướng bảo hộ dai dẳng và thúc ép các nước thành viên tăng cường các quy định điều chỉnh việc áp đặt thuế chống bán phá giá. Mặt khác, kể từ khi WTO ra tín hiệu rằng chống bán phá giá có được tập trung trong Vòng Đô-ha, thì số lượng các hành động chống bán phá giá đã giảm xuống ít nhiều.

Chủ nghĩa bảo hộ trong nông nghiệp

Một tập trung gần đây khác của WTO là các mức thuế nhập khẩu cao và trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp của nhiều nước. Mức thuế cao đối với các nông sản nhìn chung cao hơn rất nhiều so với mức thuế suất đối với hàng chế tạo hoặc dịch vụ. Ví dụ, trong giai đoạn giữa thập kỷ đầu tiên của thế kỷ mới, mức thuế suất bình quân đối vơi sản phẩm phi nông nghiệp là 4,2% tại Canada, 3,8% tại EU, 3,9% tại Nhật Bản, và 4,4% tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đối với nông sản, mức thuế suất bình quân là 21,2% tại Canada, 15,9% tại EU, 18,6% tại Nhật Bản và 10,3% tại Hoa Kỳ.39 Ý nghĩa ở đây là người tiêu dùng tại những nước này đang phải trả một mức giá cao hơn cần thiết so với nông sản nhập khẩu từ nước ngoài, khiến họ sẽ có ít tiền hơn để dành cho các hàng hóa và dịch vụ khác.

Trong lịch sử, mức thuế suất nhập khẩu cao đối với các nông sản phản ánh đòi hỏi bảo vệ ngành nông  nghiệp trong nước và các cộng đồng nông nghiệp truyền thống khỏi sự cạnh tranh từ bên ngoài. Bên cạnh thuế nhập khẩu cao, người sản xuất nông nghiệp còn thu lợi từ các khoản trợ cấp đáng kể từ chính phủ. Theo các ước tính của OECD, các khoản trợ cấp của chính phủ trung bình chiếm khoảng 17% tổng chi phí sản xuất nông nghiệp của Canada, 21% tại Hoa Kỳ, 35% tại EU, và 59% tại Nhật Bản. Tổng cộng, các nước thuộc nhóm OECD tiêu tốn khoảng 300 tỷ USD hàng năm để trợ cấp cho sản xuất nông nghiệp.

Không có gì là bất ngờ khi sự kết hợp của hàng rào thuế nhập khẩu cao và các khoản trợ cấp lớn đã gây bóp méo hoạt động sản xuất cũng như hoạt động thương mại quốc tế đối với hàng nông sản. Tác động ròng chính là làm tăng giá bán của các sản phẩm đó khi tới tay người tiêu dùng, giảm khối lượng thương mại hàng nông sản, và khuyến khích sự sản xuất dư thừa những sản phẩm nhận được nhiều trợ cấp (trong đó các chính phủ thường mua các lượng dư thừa đó). Vì lý do thương mại toàn cầu về hàng nông sản hiện nay chiếm khoảng 10,5% tổng lượng thương mại hàng hóa, tức vào khoảng 750 tỷ USD một năm, WTO lập luận rằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan và trợ cấp sẽ thúc đẩy mạnh mẽ tổng mức thương mại trong lĩnh vực này, giảm giá đến tay người tiêu dùng, và gia tăng mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu bằng cách giải phóng các nguồn lực đầu tư và tiêu dùng cho các mục đích sử dụng năng suất và hiệu quả hơn. Theo các dự báo của IMF, loại bỏ hàng rào thuế quan và trợ cấp đối với nông sản sẽ làm gia tăng lợi ích kinh tế toàn cầu lên thêm 128 tỷ USD hàng năm. Các nghiên cứu khác lại đưa ra con số lên tới 182 tỷ USD.

Những người bảo vệ lớn nhất của hệ thống đang tồn tại này chính là các nước phát triển cao trên thế giới. Họ muốn bảo hộ khu vực nông nghiệp của mình khỏi sự cạnh tranh của các nhà sản xuất có chi phí thấp từ các nước đang phát triển. Ngược lại, các nước đang phát triển đã và đang tăng cường gây sức ép đòi hỏi những cải cách giúp cho những người sản xuất của họ có thể tiếp cận nhiều hơn vào các thị trường được bảo hộ tại các nước phát triển. Những ước tính cho thấy rằng chỉ riêng việc loại bỏ tất cả trợ cấp nông sản tại các nước OECD đã có thể mang lại cho các nước đang phát triển khoản lợi ích lớn gấp ba lần tổng tất cả các khoản hỗ trợ mà họ hiện nay đang nhận từ các nước OECD. Nói cách khác, tự do hóa thương mại hàng nông sản sẽ giúp tăng nhanh mức tăng trưởng kinh tế tại các nước nghèo và giúp giảm bớt tình trạng đói nghèo trên toàn cầu.

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Một vấn đề khác hiện đang trở nên ngày càng quan trọng đối với WTO đó là vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Hiệp định thành lập WTO trong vòng đàm phán Uruguay năm 1995 cũng bao gồm một hiệp định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (hiệp định TRIPS). Các quy định của TRIPS yêu cầu các thành viên WTO phải cấp và đảm bảo hiệu lực cho các bằng bằng sáng chế (patent) trong ít nhất 20 năm và bản quyền sáng tác (copyright) trong vòng 50 năm. Các nước giàu phải tuân thủ các quy định này trong vòng 1 năm, còn các nước nghèo, những nước tại đó việc bảo vệ những quyền trên còn yếu, thì được gia hạn trong vòng 5 năm. Với những nước nghèo nhất thì thời gian thi hành là trong vòng 10 năm (kể từ ngày phê chuẩn TRIPS). Nền tảng cho thỏa thuận này là niềm tin mạnh mẽ của những quốc gia tham gia ký kết hiệp định cho rằng việc bảo  hộ  quyền  sở  hữu  trí  tuệ  thông  qua  bằng  sáng  chế,  nhãn  hiệu  thương  mại (trademark), bản quyền sáng tác  đóng vai trò nhân tố hết sức quan trọng trong hệ thống thương mại quốc tế. Sự bảo hộ không đầy đủ đối với quyền sở hữu trí tuệ sẽ làm giảm động lực tiến hành phát minh. Bởi vì phát minh chính là động cơ trung tâm của tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống, lập luận trên thể hiện là một thỏa thuận đa phương về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là cần thiết.

Nếu không có một thỏa thuận như vậy, người ta lo sợ rằng những người sản xuất tại một nước, ví dụ như  Ấn Độ, có thể tung ra thị trường những sản phẩm bắt chước những phát minh được cấp bằng sáng chế xuất phát từ một nước khác, ví dụ nước Hoa Kỳ. Điều này có thể ảnh hưởng tới thương mại quốc tế theo hai cách. Thứ nhất, nó làm giảm các cơ hội xuất khẩu sang Ấn Độ của những nhà phát minh ban đầu tại Hoa Kỳ. Thứ  hai,  xét ở mức độ mà Ấn Độ có thể xuất khẩu những sản phẩm bắt chước, vi phạm bản quyền phát minh sang các nước khác nữa, thì khi đó, cơ hội xuất khẩu của các nhà sản xuất có bản quyền của Hoa Kỳ tại  những thị trường này cũng sẽ giảm xuống. Đồng thời, ta cũng có thể lập luận rằng, khi mà quy mô thị trường dành cho những người sản xuất có bản quyền bị thu hẹp lại thì động lực để họ tiếp tục theo đuổi những phát minh tốn kém và nhiều rủi ro cũng sẽ giảm xuống. Và tác động ròng sẽ là ít các phát minh hơn cho nền kinh tế thế giới cũng như mức tăng trưởng thấp hơn.

Những điều tương tự như trên đã và đang xảy ra trong ngành sản xuất dược phẩm trong đó các công ty dược phẩm của Ấn Độ sao chép các loại thuốc có bản quyền được phát minh ở nước khác. Vào năm 1970, chính phủ Ấn Độ đã chấm dứt công nhận bằng sáng chế cho các loại thuốc nhưng lại quyết định tiếp tục tôn trọng các bằng sáng chế quá trình. Điều này đã cho phép các công ty của Ấn Độ chế tạo ngược lại các loại dược phẩm của phương Tây mà không phải trả các khoản phí bản quyền. Kết quả của chính sách này là thị phần của các công ty dược phẩm nước ngoài tại Ấn Độ giảm từ 75% năm 1970 xuống còn khoảng 30% vào năm 2000. Theo thỏa thuận TRIPS của WTO, Ấn Độ đã đồng ý áp dụng và thực thi chế độ bằng sáng chế cho đến năm 2005.

Tiếp cận thị trường đối với hàng hóa phi nông nghiệp và dịch vụ

Mặc dù WTO và GATT đã tiến được những bước dài trong việc cắt giảm mức thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm phi nông nghiệp nhưng vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Cho dù hầu hết các nước phát triển đã hạ mức  thuế suất của họ đối với các sản phẩm công nghiệp xuống mức trung bình 3,8%, nhưng vẫn tồn tại các  trường hợp ngoại lệ. Đặc biệt, khi mức thuế suất trung bình thì rất thấp nhưng mức thuế suất cao vẫn được duy trì đối với một số hàng nhập khẩu nhất định khi vào thị trường các nước phát triển, khiến hạn chế mức độ tiếp cận thị trường và tăng trưởng kinh tế. Ví dụ, Úc và Hàn Quốc, cả hai nước đều là thành viên OECD, vẫn có mức thuế ràng buộc tương ứng là 15,1% và 26,4% đối với hàng nhập khẩu là các thiết bị vận tải (thuế suất ràng buộc là mức thuế suất cao nhất có thể được áp dụng một cách thường xuyên, nhưng không phải luôn luôn được áp dụng). Trong khi đó, mức thuế suất ràng buộc đối với các thiết bị vận tải vào thị trường Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản chỉ ở các mức tương ứng là 2,7%, 4,8% và 0%. Một lĩnh vực đặc thù cần quan tâm là các mức thuế suất cao đối với hàng nhập khẩu được lựa chọn từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển.

Thêm vào đó, thuế nhập khẩu đánh lên các dịch cũng vẫn còn ở mức rất cao so với mức đánh lên các hàng công nghiệp. Mức thuế suất trung bình đánh lên dịch vụ kinh doanh và tài chính nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ là 8,2%, vào thị trường EU là 8,5% và vào thị trường Nhật Bản là 19,7%.45 Trong điều kiện giá trị thương mại dịch vụ qua biên giới đang tăng lên, việc cắt giảm các mức thuế suất trên hy vọng sẽ mang lại các khoản lợi nhuận đáng kể.

WTO mong muốn hạ thuế suất xuống mức thấp hơn nữa và giảm phạm vi áp dụng các mức thuế suất cao. Mục tiêu cuối cùng là giảm mức thuế suất xuống còn mức 0%. Mặc dầu, mức thuế này dường như là quá tham vọng và ảo tưởng, nhưng tới nay đã có tới 40 quốc gia thành viên đã cắt giảm thuế suất xuống mức 0% đối với hàng công nghệ thông tin và điều này tạo điều kiện tốt cho việc cắt giảm ở các nước khác. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng, việc cắt giảm mức thuế suất nhập khẩu bình quân xuống mức 0 sẽ mang lại lợi nhuận rất lớn. Một ước tính của các nhà kinh tế học thuộc Ngân hàng Thế giới (WB) đã cho rằng các thỏa thuận thương mại toàn cầu rộng hơn xuất phát từ vòng đàm phán Đô-ha sẽ gia tăng thu nhập của toàn thế giới thêm 213 tỷ USD cho tới năm 2015, trong số đó có 109 tỷ USD sẽ thuộc về các nước nghèo. Một nghiên cứu khác của tổ chức OECD lại  đưa ra một con số vào khoảng 300 tỷ USD hàng năm.

Nhìn xa hơn, mục tiêu của WTO còn là cắt giảm thuế quan đối với hàng phi nông sản nhập khẩu vào thị trường các nước đang phát triển. Nhiều nước trong nhóm này sử dụng lý lẽ bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ để tiếp tục áp đặt mức thuế nhập khẩu cao; tuy vậy, cuối cùng thì các mức thuế suất cao này cũng sẽ giảm xuống để những nước này có thể thu được lợi ích nhiều hơn từ hoạt động thương mại quốc tế. Ví dụ, tại Ấn Độ, mức thuế suất ràng buộc đối với thiết bị vận tải lên tới 53,9%, còn tại Braxin là 33,6%, bằng cách nâng giá hàng nội địa, đã giúp bảo hộ các ngành nội địa không hiệu quả và hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua việc giảm thu nhập thực tế của người tiêu dùng, những người phải trả nhiều tiền hơn cho các thiết bị vận tải cũng như các dịch vụ liên quan.

Vòng đàm phán mới: Vòng Đô-ha

Các vụ kiện chống bán phá giá, thương mại đối với hàng nông sản, việc thực hiện hiệu quả hơn đối với luật sở hữu trí tuệ, và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường là bốn vấn đề chủ yếu mà WTO muốn giải quyết trong các cuộc họp ở Seattle vào năm 1999. Tuy nhiên, những cuộc đàm phán đó đã đi trệch đường lối chủ đạo. Đến cuối năm 2001, WTO một lần nữa cố gắng khởi động một vòng đàm phán mới giữa các nước thành viên nhằm mục đích tạo ra môi trường tự do thông thoáng hơn cho hoạt động thương mại toàn cầu và đầu tư quốc tế. Đó là vòng đàm phán diễn ra tại Đô-ha (Ca-ta). Không giống như cuộc họp đã diễn ra tại Seattle, tại Doha, các nước thành viên đã đồng ý đặt ra một lộ trình cụ thể và dự kiến ban đầu sẽ kéo dài đàm phán trong vòng 3 năm, nhưng trên thực tế đã diễn ra lâu hơn và khó có thể kết thúc trong thời gian ngắn. Lộ trình này bao gồm cả việc cắt giảm thuế quan đối với hàng công nghiệp và dịch vụ, rồi xóa bỏ trợ cấp nông nghiệp, giảm thiểu rào cản đối với hoạt động đầu tư giữa các quốc gia, và hạn chế việc sử dụng luật chống bán phá giá. Một số thỏa hiệp khó khăn đã đạt được để đi đến một hiệp định chung trong lộ trình đàm phán. EU và Nhật Bản đã rất quan tâm đến vấn đề về trợ cấp nông nghiệp mà họ đã sử dụng rất rộng rãi để có được sự ủng hộ về mặt chính trị của những người nông dân. Hoa Kỳ đã phải nhượng bộ trước áp lực từ các quốc gia khác khi đàm phán để điều chỉnh lại các quy định về chống bán phá giá mà Hoa Kỳ đã sử dụng để bảo vệ các nhà sản xuất thép của mình trước sự cạnh tranh từ nước ngoài. EU phải từ bỏ nỗ lực của mình trong việc đưa các vấn đề về môi trường vào trong các buổi thảo luận về thương mại, chủ yếu là vì áp lực từ các nước đang phát triển nhận ra những chính sách bảo vệ môi trường của EU giống các rào cản thương mại núp dưới một cái tên khác. Trong chương trình, không có một điều khoản nào đề cập đến việc gắn kết thương mại với các tiêu chuẩn lao động của một quốc gia.

Các quốc gia có ngành công nghiệp dược phẩm phát triển đều đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của các nước châu Phi, châu Á, và các nước Hoa Kỳ La-tinh về các vấn đề liên quan đến bằng phát minh, sáng chế dược phẩm. Cụ thể, có một điều khoản trong hiệp định nói rằng các quy định về quyền sở hữu trí tuệ của WTO “không và không nên ngăn cản các nước thành viên áp dụng các biện pháp nhằm bảo vệ sức khỏe công đồng”. Điều này đảm bảo cho các nước nghèo trên thế giới có thể tự sản xuất hoặc mua dược phẩm để chống lại các bệnh hiểm nghèo như AIDS và dịch sốt rét

Rõ ràng là, thỏa thuận trong chương trình nghị sự là một chuyện, còn đạt được thỏa thuận trong một hiệp định lại là chuyện khác. Tuy nhiên, thỏa thuận này mang lại lợi ích cho một số người, bao gồm các nhà sản xuất nông sản có chi phí thấp ở các nước đang phát triển và các nước phát triển như Úc và Hoa Kỳ. Nếu vòng đàm phán thành công, các nhà sản xuất nông nghiệp ở các quốc gia này sẽ nhìn thấy thị trường tiềm năng rộng mở cho sản phẩm của họ. Các nước đang phát triển cũng có lợi khi không có điều khoản liên quan đến tiêu chuẩn lao động, những tiêu chuẩn mà nhiều quốc gia phát triển đã sử dụng như một rào cản thương mại. Các quốc gia nghèo đói và kém phát triển cũng được hưởng lợi từ sự thâm nhập của hàng hóa dược phẩm rẻ tiền. Theo hiệp định này, rõ ràng là cũng có những nước chịu thiệt hại, trong đó có cả người nông dân ở EU và Nhật Bản, các nhà sản xuất thép ở Hoa Kỳ, các nhà hoạt động vì môi trường, và các hãng dược phẩm ở các nước phát triển. Những đối tượng chịu thiệt hại này sẽ vận động hành lang đối với Chính phủ của họ trong nhiều năm để đảm bảo rằng hiệp định cuối cùng sẽ có lợi cho họ nhiều hơn. Nhìn chung, nếu có thành công, vòng đàm phán Doha có thể tăng đáng kể phúc lợi kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Ngân hàng Thế giới ước tính là nếu Vòng đàm phán Doha thành công, đến năm 2015, thu nhập toàn cầu sẽ tăng hơn 500 tỉ USD/năm, trong đó có 60% thu nhập tăng thêm được dành cho các nước nghèo, nhờ đó sẽ giúp cho 144 triệu người thoát khỏi đói nghèo.

Vòng đàm phán vẫn đang diễn ra, và vẫn luôn bị ngắt quãng và chậm trễ so với kế hoạch. Cuộc gặp ở Cancun, Mexico vào tháng 9 năm 2003 đã thất bại chủ yếu là do không có sự thống nhất về việc làm thế nào để giảm trợ cấp nông nghiệp và thuế quan; EU, Hoa Kỳ, Ấn Độ và các nước khác thể hiện sự không sẵn sàng giảm thuế quan và trợ cấp cho những người nông dân có sức mạnh chính trị ở đất nước họ, trong khi đó Brazil và một số nước Tây Phi khác lại muốn tự do hóa thương mại càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, vào đầu năm 2004, cả Hoa Kỳ và EU đều muốn khởi động lại vòng đàm phán một lần nữa, và đến giữa năm 2004, hai quốc gia có vẻ đã đồng ý sẽ cắt giảm thuế quan và trợ cấp nông nghiệp. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết và không biết đến khi nào Vòng đàm phán Doha mới kết thúc.