Tỷ trọng của các ngành công nghiệp và xây dựng trong GRDP, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp

Thứ nhất, về tỷ trọng của các ngành công nghiệp và xây dựng trong GRDP ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017:

Như đã trình bày ở tiểu mục 4.2.1.1, GRDP ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 đã tăng lên gấp 10,9 lần, từ 71.412 tỷ đồng năm 2000 lên 781.101 tỷ đồng năm 2017. Riêng giá trị gia tăng của nhóm ngành công nghiệp – xây dựng trong giai đoạn này đã tăng lên gấp 16,3 lần, từ 12.822 tỷ đồng năm 2000 lên

209.384 tỷ đồng năm 2017. Trong đó, giá trị gia tăng của ngành khai khoáng đã tăng lên gấp 5,8 lần, từ 154 tỷ đồng lên 900 tỷ đồng; giá trị gia tăng của ngành công nghiệp chế biến đã tăng lên gấp 15 lần, từ 9.800 tỷ đồng lên 147.167 tỷ đồng; giá trị gia tăng của ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước đã tăng lên gấp 44,4 lần, từ 556 tỷ đồng lên 24.697 tỷ đồng; giá trị gia tăng của ngành xây dựng đã tăng lên gấp 15,9 lần, từ 2.310 tỷ đồng lên 36.621 tỷ đồng trong giai đoạn này (xem Phụ lục 10).

Như vậy, giá trị gia tăng của nhóm ngành công nghiệp – xây dựng đã tăng nhanh hơn so với GRDP. Trong đó, chỉ có giá trị gia tăng của ngành khai khoáng là tăng chậm hơn so với GRDP vì vùng ĐBSCL có tài nguyên khoáng sản rất hạn chế, còn giá trị gia tăng của các ngành còn lại đều tăng nhanh hơn so với GRDP. Điểm nổi bật ở đây là giá trị gia tăng của ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước tăng nhanh nhất vì trong thời gian qua nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 ở tỉnh Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện Ô Môn 1 ở TP. Cần Thơ, công trình quốc gia khí – điện – đạm ở tỉnh Cà Mau… đã chính thức đi vào hoạt động làm cho giá trị gia tăng của ngành này là tăng nhanh nhất. Vì vậy, tỷ trọng giá trị gia tăng của nhóm ngành công nghiệp – xây dựng và các ngành kinh tế cấp 1 của nó trong GRDP đã chuyển dịch theo xu hướng sau (xem Bảng 4.13):

Bảng 4.13 cho thấy: tỷ trọng giá trị gia tăng của nhóm ngành công nghiệp – xây dựng trong GRDP có xu hướng tăng lên. Trong đó, tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành khai khoáng trong GRDP là rất nhỏ bé và có xu hướng giảm xuống. Ngược lại, tỷ trọng giá trị gia tăng của các ngành còn lại trong GRDP đều có xu hướng tăng lên.

Tỷ trọng của các ngành công nghiệp và xây dựng trong GRDP chuyển dịch theo xu hướng trên là đúng hướng vì nó vừa phù hợp với đặc thù của vùng ĐBSCL là vùng có tài nguyên khoáng sản rất hạn chế, vừa phù hợp với xu hướng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH.

Tốc độ chuyển dịch tỷ trọng của các ngành công nghiệp và xây dựng trong GRDP ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 được đo lường bằng hệ số cosφ:

Vậy φ = 6,2 , nghĩa là tỷ trọng của các ngành công nghiệp và xây dựng trong GRDP ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 chuyển dịch còn rất chậm.

Để phản ánh sát hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hóa của các ngành công nghiệp ở vùng ĐBSCL trong thời gian qua, ta cần phân tích cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp và cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo nhóm ngành công nghệ thấp, nhóm ngành công nghệ trung bình và nhóm ngành công nghệ cao.

Thứ hai, về cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp:

Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017:

Ba ngành công nghiệp cấp 1 (khai khoáng; công nghiệp chế biến; sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước) ở vùng ĐBSCL gồm có 27 ngành công nghiệp cấp 2 (xem Phụ lục 11). Nếu căn cứ theo xu hướng vận động của tỷ trọng trong giá trị sản xuất công nghiệp thì các ngành công nghiệp cấp 2 này có thể được phân chia ra thành các nhóm ngành sau:

Nhóm 1: Nhóm các ngành có xu hướng tăng lên về tỷ trọng trong giá trị sản xuất công nghiệp. Đáng chú ý là:

Ngành sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ uống: tỷ trọng ngành sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ uống trong giá trị sản xuất công nghiệp luôn lớn nhất và có xu hướng tăng lên, từ 60,9% năm 2000 lên 62% năm 2017. Sản phẩm chủ yếu của ngành này là gạo xay xát, đường, thủy sản đông lạnh, nước mắm… Tuyệt đại đa số nguyên liệu đầu vào của ngành này là do ngành nông nghiệp và thủy sản ở vùng cung ứng, còn đầu ra thì được tiêu thụ ở thị trường trong nước và xuất khẩu. Các loại sản phẩm do ngành này sản xuất ra nằm trong “Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu” ở vùng ĐBSCL trong thời gian qua.

Ngành sản xuất trang phục: tỷ trọng ngành sản xuất trang phục trong giá trị sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng lên, từ 1,6% năm 2000 lên 1,8% năm 2010 và đạt 2,7% năm 2017. Sản phẩm chủ yếu của ngành này là quần áo may sẵn. Phần lớn nguyên phụ liệu may đều phải nhập khẩu và đầu ra của ngành đều xuất khẩu.

Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan: tỷ trọng ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan trong giá trị sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng lên, từ 1,2% năm 2000 lên 2,3% năm 2010 và đạt 5,5% năm 2017. Sản phẩm chủ yếu của ngành này là giày, dép, cặp, túi da… Tương tự như ngành sản xuất trang phục, phần lớn nguyên phụ liệu giày đều phải nhập khẩu và đầu ra của ngành đều xuất khẩu. Ngành sản xuất trang phục, ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan đều thuộc nhóm ngành công nghệ thấp, sử dụng nhiều lao động không có trình độ CMKT, vì vậy nó phù hợp với điều kiện ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn hiện nay.

Ngoài ra, còn có các ngành như: sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất kim loại; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị); sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sản xuất thiết bị điện; sản xuất xe có động cơ, rơ moóc; công nghiệp chế biến, chế tạo khác; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu. Tuy nhiên, tỷ trọng của mỗi ngành này trong giá trị sản xuất công nghiệp còn rất nhỏ bé (chưa tới 3% giá trị sản xuất công nghiệp). Trong đó, nguyên liệu đầu vào của một số ngành như sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu, sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic, sản xuất kim loại, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) đều phải nhập khẩu. Đầu ra của những ngành này thì được tiêu thụ ở thị trường trong nước.

Nhóm 2: Nhóm các ngành có xu hướng giảm xuống về tỷ trọng trong giá trị sản xuất công nghiệp do khó khăn về nguồn nguyên liệu và khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Đáng chú ý là:

Ngành dệt: tỷ trọng ngành dệt trong giá trị sản xuất công nghiệp có xu hướng giảm xuống, từ 2,6% năm 2000 xuống còn 2,1% năm 2017. Sản phẩm chủ yếu của ngành dệt là vải thành phẩm. Vì vùng ĐBSCL không có vùng nguyên liệu cho ngành dệt, cho nên nguyên liệu đầu vào của ngành này là sợi phải nhập khẩu, còn đầu ra thì phần lớn được tiêu thụ ở thị trường trong nước.

Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế): do khó khăn về nguồn nguyên liệu là gỗ nên tỷ trọng ngành này trong giá trị sản xuất công nghiệp có xu hướng giảm xuống, từ 2,9% năm 2000 xuống còn 1,6% năm 2010 và còn 1,3% năm 2017. Sản phẩm chủ yếu của ngành này là gỗ xẻ và chiếu cói các loại.

Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác: đây là ngành có tỷ trọng trong giá trị sản xuất công nghiệp giảm đáng kể nhất, từ 11,2% năm 2000 xuống còn 3,9% năm 2010 và chỉ còn 2,6% năm 2017. Sản phẩm chủ yếu của ngành này gồm có gạch nung, xi măng, gạch và gạch khối xây bằng xi măng, bê tông đúc sẵn, bê tông trộn sẵn, tấm lợp phirô xi măng, clinker và vôi ở Kiên Giang.

Ngoài ra, còn có các ngành như: khai khoáng; sản xuất sản phẩm thuốc lá; sản xuất phương tiện vận tải khác; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; khai thác, xử lý và cung cấp nước.

Nhóm 3: Nhóm các ngành có tỷ trọng trong giá trị sản xuất công nghiệp vận động không theo một xu hướng rõ ràng. Trong nhóm này, có các ngành sau: in, sao chép bản ghi các loại chiếm khoảng 0,3% giá trị sản xuất công nghiệp; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế chiếm khoảng 0,4% giá trị sản xuất công nghiệp; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất chiếm khoảng 3,8% giá trị sản xuất công nghiệp; sản xuất máy móc, thiết bị chiếm khoảng 0,4% giá trị sản xuất công nghiệp.

Như vậy, qua phân tích cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017, ta thấy rằng:

  • Các ngành công nghiệp khai thác nguồn nguyên liệu nông sản và thủy sản, khai thác nguồn nhân lực dồi dào, có thị trường tiêu thụ trong nước và ngoài nước thuận lợi thì phát triển mạnh mẽ làm cho tỷ trọng của các ngành này trong giá trị sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng lên. Ngược lại, các ngành công nghiệp gặp phải nhiều khó khăn về nguồn nguyên liệu và khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường thì phát triển chậm hơn làm cho tỷ trọng của các ngành này trong giá trị sản xuất công nghiệp có xu hướng giảm xuống.
  • Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng tiến bộ còn rất chậm chạp.
  • Các ngành công nghiệp phụ trợ còn kém phát triển nên nguyên liệu đầu vào của đa số các ngành công nghiệp đều phải nhập khẩu.

Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo nhóm ngành công nghệ thấp, nhóm ngành công nghệ trung bình và nhóm ngành công nghệ cao ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017:

Ngành công nghiệp chế biến bao gồm 23 ngành công nghiệp cấp 2, TCTK (2014) đã phân chia 23 ngành công nghiệp cấp 2 này ra thành: nhóm ngành công nghệ thấp, nhóm ngành công nghệ trung bình và nhóm ngành công nghệ cao (xem Phụ lục 12).

Theo cách phân chia trên thì cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo nhóm ngành công nghệ thấp, nhóm ngành công nghệ trung bình và nhóm ngành công nghệ cao ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 được thể hiện ở bảng sau (xem Bảng 4.14):

Bảng 4.14 cho thấy:

Nhóm ngành công nghệ thấp luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá trị sản xuất công nghiệp và có xu hướng tăng lên. Sự tăng lên này là do tỷ trọng của ngành sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ uống; sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy có xu hướng tăng lên trong thời gian qua.

Nhóm ngành công nghệ trung bình luôn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn và có xu hướng giảm xuống. Sự giảm xuống này là do tỷ trọng của ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác đã giảm đáng kể trong thời gian qua.

Nhóm ngành công nghệ cao luôn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong giá trị sản xuất công nghiệp và có xu hướng tăng lên. Đây là xu hướng tích cực vì nó phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp ở các nước trên thế giới trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, từng ngành công nghiệp thuộc nhóm ngành công nghệ cao này còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ bé trong giá trị sản xuất công nghiệp, chẳng hạn như: năm 2017, ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học chỉ chiếm có 0,2% giá trị sản xuất công nghiệp; ngành sản xuất máy móc, thiết bị chiếm 0,4% giá trị sản xuất công nghiệp; ngành sản xuất xe có động cơ, rơ moóc chiếm 0,6% giá trị sản xuất công nghiệp…

Như vậy, qua phân tích cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo trình độ công nghệ ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017, ta thấy rằng nhóm ngành công nghệ thấp luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá trị sản xuất công nghiệp, nhóm ngành công nghệ trung bình luôn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn và nhóm ngành công nghệ cao luôn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong giá trị sản xuất công nghiệp. Điều này phản ánh rằng trình độ của nền công nghiệp ở vùng ĐBSCL hiện nay vẫn còn rất thấp.