Tỷ trọng của các ngành dịch vụ trong GRDP

Tỷ trọng của một số ngành dịch vụ trong GRDP ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 đã chuyển dịch theo xu hướng sau (xem Bảng 4.15):

Bảng 4.15 cho thấy:

Ngành thương nghiệp; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác: giá trị gia tăng của ngành này ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 đã tăng lên gấp 16,2 lần, từ 6.690 tỷ đồng năm 2000 lên 108.118 tỷ đồng năm 2017. Trong khi đó, GRDP ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn này đã tăng lên gấp 10,9 lần, từ 71.412 tỷ đồng năm 2000 lên 781.101 tỷ đồng năm 2017 (xem Phụ lục 13). Cho nên, tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành này trong GRDP có xu hướng tăng lên, từ 9,4% năm 2000 lên 11,3% năm 2010 và đạt 13,8% năm 2017. Trong nhóm ngành dịch vụ thì ngành này luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GRDP. Sở dĩ như vậy là vì mức vốn đầu tư/1 lao động của ngành này luôn ở mức thấp (khoảng 17 triệu đồng/1 lao động năm 2017), phù hợp với điều kiện ít vốn và nhiều lao động phổ thông ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn hiện nay.

Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống: giá trị gia tăng của ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 đã tăng lên gấp 17,7 lần, từ 2.123 tỷ đồng năm 2000 lên 37.581 tỷ đồng năm 2017. Tốc độ tăng này đã nhanh hơn so với tốc độ tăng của GRDP trong cùng kỳ. Cho nên, tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống trong GRDP cũng có xu hướng tăng lên, từ 3% năm 2000 lên 3,6% năm 2010 và đạt 4,8% năm 2017. Trong nhóm ngành dịch vụ thì ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống có tỷ trọng lớn thứ hai cũng bởi vì mức vốn đầu tư/1 lao động của ngành này cũng luôn ở mức thấp (khoảng 9 triệu đồng/1 lao động năm 2017), phù hợp với điều kiện ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn hiện nay.

Ngành vận tải kho bãi, thông tin và truyền thông: giá trị gia tăng của ngành vận tải kho bãi, thông tin và truyền thông ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 đã tăng lên gấp 13,7 lần, từ 2.357 tỷ đồng năm 2000 lên 32.247 tỷ đồng năm 2017. Tốc độ tăng này cũng đã nhanh hơn so với tốc độ tăng của GRDP trong cùng kỳ. Cho nên, tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành vận tải kho bãi, thông tin và truyền thông trong GRDP cũng có xu hướng tăng lên, từ 3,3% năm 2000 lên 4% năm 2010 và đạt 4,1% năm 2017. Đây là xu hướng tích cực. Tuy nhiên, mạng lưới cầu đường trên địa bàn vẫn chịu tình trạng quá tải so với nhịp độ tăng trưởng kinh tế – xã hội. Tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông gia tăng đang tạo nên những trở lực rất đáng kể cho quá trình phát triển kinh tế.

Ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm: ở vùng ĐBSCL hiện nay, ngành này gồm có hàng trăm chi nhánh ngân hàng và quỹ tín dụng nhân dân đã có mặt khắp 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng, hàng chục doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, một số công ty cho thuê tài chính cũng đã có mặt tại các trung tâm lớn của vùng. Các định chế tài chính này thực hiện chức năng cơ bản là chu chuyển nguồn vốn từ các chủ thể tiết kiệm (thừa vốn) đến các chủ thể cần vốn (thiếu vốn). Giá trị gia tăng của ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 –  2017 đã tăng lên gấp 10,1 lần, từ 2.402 tỷ đồng năm 2000 lên 24.250 tỷ đồng năm 2017. Tốc độ tăng này đã chậm hơn so với tốc độ tăng của GRDP trong cùng kỳ. Cho nên, tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm trong GRDP có xu hướng giảm xuống, từ 3,4% năm 2000 xuống còn 3,1% năm 2017. Ngoài ra, tổng nguồn vốn huy động của các ngân hàng ở vùng ĐBSCL mới chỉ đáp ứng được khoảng trên 40% tổng nhu cầu vốn của toàn vùng, lượng vốn đầu tư mà các ngân hàng cung cấp cho vùng chủ yếu là từ nguồn vốn của ngân hàng cân đối bình quân hàng năm. Một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này là do người dân chưa có tâm lý gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng. Qua khảo sát gần đây của JICA (Nhật Bản) thì tỷ lệ tiết kiệm gửi vào ngân hàng ở vùng ĐBSCL rất thấp, khoảng 12,5% tổng tiết kiệm, trong khi tiết kiệm bằng vàng lên tới 55%. Trong nghiệp vụ cho vay vốn của các ngân hàng thì còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Đối với bảo hiểm thì các dịch vụ bảo hiểm rủi ro tài chính và bảo hiểm nông nghiệp là không đáng kể.

Hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ: tiềm lực khoa học – công nghệ ở vùng ĐBSCL hiện nay gồm có: các trường đại học và cao đẳng đóng trên địa bàn; Viện lúa ĐBSCL; Viện cây ăn quả Miền Nam; Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Đồng Tháp Mười; Phân viện nghiên cứu thủy sản Nam sông Hậu trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Viện nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học, Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL trực thuộc Trường Đại học Cần Thơ… Những kết quả nghiên cứu khoa học được ứng dụng ngày càng nhiều vào trong nhóm ngành nông – lâm – thủy sản, công nghiệp – xây dựng, thủy lợi… góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Tuy nhiên, giá trị gia tăng của ngành này và tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành này trong GRDP vẫn còn rất nhỏ bé, chiếm khoảng 0,5% GRDP năm 2017.

Ngành giáo dục và đào tạo: ngành dịch vụ này có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài phục vụ quá trình CNH, HĐH. Ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017, giá trị gia tăng của ngành giáo dục và đào tạo đã tăng lên gấp 17,6 lần, từ 1.605 tỷ đồng năm 2000 lên 28.223 tỷ đồng năm 2017. Tốc độ tăng này đã nhanh hơn so với tốc độ tăng của GRDP trong cùng kỳ. Cho nên, tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành giáo dục và đào tạo trong GRDP có xu hướng tăng lên, từ 2,2% năm 2000 lên 2,8% năm 2010 và đạt 3,6% năm 2017. Đây cũng là xu hướng tích cực. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với ngành giáo dục và đào tạo ở vùng ĐBSCL hiện nay là trình độ dân trí và tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp hơn so với các vùng kinh tế – xã hội khác của cả nước. Riêng đối với lực lượng lao động đã qua đào tạo thì còn mất cân đối trong cơ cấu trình độ và ngành nghề đào tạo, chất lượng đào tạo còn thấp làm cản trở sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở vùng trong thời gian tới.

Như vậy, qua phân tích tỷ trọng của các ngành dịch vụ trong GRDP ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 ta thấy rằng tỷ trọng của hầu hết các ngành dịch vụ trong GRDP đều có xu hướng tăng lên với các mức độ khác nhau (chỉ trừ tỷ trọng của ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm là có xu hướng giảm xuống). Tuy nhiên, những ngành dịch vụ truyền thống sử dụng nhiều lao động phổ thông và cần ít vốn đầu tư như ngành thương nghiệp, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác, dịch vụ lưu trú và ăn uống còn chiếm tỷ trọng cao trong GRDP. Ngược lại, những ngành dịch vụ có tính chất động lực, có tác dụng thúc đẩy quá trình CNH, HĐH như ngành vận tải kho bãi, thông tin và truyền thông, ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo còn chiếm tỷ trọng thấp trong GRDP.

Để phản ánh mức độ thành công về mặt kinh tế – xã hội của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH ở vùng ĐBSCL trong thời gian qua, ta cần phân tích cơ cấu tổng lao động xã hội phân theo nhóm ngành kinh tế và cơ cấu tổng lao động xã hội phân theo trình độ CMKT, cụ thể như sau: