Ưu nhược điểm chiến lược đóng cửa nền kinh tế

Nội dung:

– Khi áp dụng chiến lược đóng cửa nền kinh tế, các quốc gia hạn chế mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại với bên ngoài, phát triển kinh tế bằng nội lực là chính, thực hiện tự cung tự cấp bằng những nguồn lực trong nước.

Mục đích:

– Xây dựng một nền kinh tế tự chủ hoàn toàn dựa trên khả năng của mình.
– Giảm sự phụ thuộc kinh tế vào bên ngoài.

Ưu điểm:

– Xây dựng một nền kinh tế tự chủ là nền tảng bảo đảm cho sự độc lập về chính trị.
– Các nguồn lực trong nước được khai thác tối đa để thoả mãn nhu cầu trong nước.
– Tốc độ phát triển kinh tế ổn định. Nền kinh tế ít bị ảnh hưởng bởi những biến động xấu (khủng hoảng) của nền kinh tế thế giới. (Ví dụ: trường hợp của Việt Nam khi Khu vực Châu á có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đó thì Việt Nam hầu như không bị ảnh hưởng đến nền kinh tế, trong khi đó cuộc khủng hoảng đó ảnh hưởng rất lớn đến các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia v.v… Đã có một loạt những lý giải tại sao Việt Nam lại không bị ảnh hưởng nhiều, những lý giải đó thiên về tính tích cực như: Có hướng chủ động, Dự báo trước v.v..; nhưng về khía cạnh kinh tế thì bản chất của vấn đề là do nền kinh tế của Việt Nam khi đó còn rất đóng, chưa hội nhập sâu với các nền kinh tế khác trong khu vực – Hội nhập sâu được thể hiện ở điểm quan hệ với các nhà đầu tư trong khu vực, vay vốn của các ngân hàng ở Thái Lan, Indonesia, quan hệ đầu tư thương mại, công nghệ v.v.. những đan xen về kinh tế với các nước trong khu vực của Việt Nam còn thấp ở thời điểm đó, do vậy khi những Ngân hàng ở Thái Lan, Indonesia v.v.. bị phá sản thì Việt Nam không có nhiều những khoản vay ở đó. Nếu như bây giờ mà xảy ra cuộc khủng hoảng trong khu vực như vậy thì Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rất to lớn vì mức độ hội nhập của Việt Nam hiện giờ đã rất cao so với thời điểm đó.

Nhược điểm:

– Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định nhưng chậm.
– Nền kinh tế bị tụt hậu so với bên ngoài.
– Các nguồn lực trong nước được khai thác tối đa nhưng không hiệu quả.
– Thị trường nội địa nghèo nàn, chật hẹp, giá cả đắt đỏ, hàng hoá kém đa dạng, và người tiêu dùng không có điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất.

Qua bốn nhược điểm trên ta thấy đối với các nước áp dụng chiến lược này thì tốc độ phát triển kinh tế ổn định nhưng rất chậm, tụt hậu so với bên ngoài (vd: nền kinh tế của các nước Châu á những năm 1970 so với Việt Nam không có sự cách biệt là mấy như Sài Gòn được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn đông đã là một trong những khu vực kinh tế rất sầm uất nhưng sau một thời gian tương đối đóng cửa mở cửa với Đông Âu; nhưng đóng với các khu vực khác tới khi mở cửa năm 1986 thì các nước trong khu vực đã tiến rất xa so với Việt Nam).
Trong một dịp phỏng vấn những Việt Kiều, có một Việt Kiều ở Nhật có trả lời câu hỏi: Ai cũng biết rằng đóng cửa hay bảo hộ (đóng cửa nói chung, bảo hộ trong lĩnh vực mậu dịch nói riêng) là một chiến lược không tốt sẽ làm cho người tiêu dùng thiệt thòi (nếu như đã biết về kinh tế, quản trị kinh doanh ta đều biết rằng bảo hộ hay đóng cửa sẽ làm cho người tiêu dùng bị thiệt bởi vì giá cả sẽ tăng lên do bảo hộ thì sẽ phải đóng thuế, khi giá tăng thì lượng tiêu dùng sẽ giảm đi trên cơ sở đường cầu). Ông đã lập luận như sau: Nếu không có bảo hộ thì giá thế giới ở mức độ P1, và sản xuất, tiêu dùng ở lượng Q1, giao điểm của P1 và Q1 là H phần tam giác PP1H là thặng dư của người tiêu dùng (Consumer Surplus). Khi có bảo hộ mà bảo hộ mức độ càng cao thì tác động của nó càng lớn thì sẽ tác động làm mức giá tăng lên P2, do vậy người tiêu dùng cắt giảm làm lượng giảm xuống mức Q2, thặng dư giảm đi xuống còn diện tích của PP2H2. Trong xã hội ai cũng là người tiêu dùng (người sản xuất, gia đình, cá nhân, chính phủ v.v..) do vậy nếu nói rằng người tiêu dùng bị thiệt thòi thì ai cũng bị thiệt thòi cả (nhưng trong các vòng đàm phán của WTO, luôn luôn các bên đều mong muốn phải bảo hộ ngành này, ngành kia). Ông nói tiếp: Người ta muốn có tiêu dùng được thì phải có thu nhập thì mới có thể trang trải được khoản tiêu dùng của mình. Muốn có thu nhập thì phải có công ăn việc làm, mà bảo hộ thì tạo ra công ăn việc làm cho rất nhiều người. Nếu tham gia vào WTO, khi các doanh nghiệp cảm thấy mình đã đủ mạnh, nếu không thì mức độ cạnh tranh cao, số lượng các doanh nghiệp phải lao đao sẽ tăng lên rât nhiều và kéo theo là tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng. Bảo hộ tạo ra công ăn việc làm chính vì vậy giúp cho nhiều người có thể trang trải được những chi phí của minh, do vậy bảo hộ / đóng cửa có tính hai mặt: (i) làm cho người tiêu dùng bị thiệt thòi, thị trường nghèo nàn, số lượng hàng hoá thấp, giá cả cao; nhưng ngược lại (ii) về khía cạnh xã hội thì lại tạo công ăn việc làm. Do vậy để phát triển trong dài hạn bảo hộ vẫn rất cần.