Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

Đánh giá thành tựu 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội (1991 – 2000), Báo cáo Chính trị tại Đại hội IX đã nhận định rằng một trong những chuyển biến quan trọng nhất của nền kinh tế trong những năm vừa qua là : ” Từ chỗ chỉ có hai thành phần kinh tế là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể đã chuyển sang có nhiều thành phần trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo “. ở một đoạn khác về đường lối và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Báo cáo Chính trị lại khẳng định quyết tâm của Đảng ta : ” Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần” và nói rõ thêm : ” Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng phát triển lâu dài , hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế Nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.

Những điều trên thực sự chứa đựng nhiều cái mới được tổng kết từ thực tiễn đòi hỏi phải có một sự nghiên cứu công phu mới thực sự nắm bắt được. Phần này làm rõ ba vấn đề sau:

Một là, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần phát triển ở nước ta hiện nay.
Hai là, tính tất yếu vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.
Ba là, vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước biểu hiện như thế nào.

1. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần phát triển ở nước ta hiện nay.

Ta đã biết cương lĩnh năm 1991 của Đảng ta nêu lên sáu đặc trưng cơ bản của xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, trong đó có đặc trưng về nền kinh tế dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu. Chế độ công hữu hay chế độ công cộng bao gồm cả sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu từng bước được xác lập và sẽ chiếm ưi thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về cơ bản. Đó là chuyện lâu dài, còn chuyện trướn mắt chúng ta vẫn đang là thời kỳ quá độ. Thời kỳ quá độ là một thời kỳ không ngắn cho nên phát triển nền kinh tế nhiều thành phần cũng là một tất yếu khách quan nhằm khai thác tối đa mọi năng lực sản xuất trong xã hội để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá, tinh thần của nhân dân.

Trước đây, do duy ý chí, chủ quan và nóng vội đã có ý nghĩ rằng có thể xây dựng nhanh xã hội chủ nghĩa thông qua các biện pháp cải tạo xã hội chủ nghĩa , xoá bỏ các thành phần kinh tế tư nhân được coi là ” phi chủ nghĩa xã hội”. Sự thực không phải như vậy, thực tiễn 10 năm đổi mới cho thấy rằng đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế còn nghèo nàn, chậm phát triển trước hết phải lấy việc phát triển lực lượng sản xuất làm ưu tiên. Còn việc xây dựng quan hệ sản suất mới đặc biệt là xây dựng chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu là một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lâu dài, nhiều bước, nhiều hình thức từ thấp đến cao. Theo tinh thần đó, Báo cáo Chính trị chỉ rõ : ” Tiêu chuẩn căn bản để đnáh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội”. Làm khác đi là có hại cho sự phát triển.

Về cơ cấu ngành:

Từ các hình thức sở hữu cơ bản : “Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức sử hữu kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp”. Các thành phần kinh tế được nêu lên gồm : kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước. Thành phần kinh tế hợp tác đã được thay bằng thành phần kinh tế tập thể nói rõ hơn về bản chất của sở hữu. Và thành phần này vẫn được hiểu là bao gồm nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thành phần này xuất hiện và ngày càng lớn lên trong những năm gần đây, bao gồm vốn do nước ngoài đầu tư vào nước ta, hoặc 100% hoặc trong các hình thức liên doanh, liên kết.
Nhìn chung kinh tế Việt Nam có những chuyển biến tích cực, tỉ lệ ngành công nghiệp và dich vụ trong GDP có xu hướng tăng và tỉ lệ ngành nông nghiệp có xu hướng giảm. Tuy nhiên cốt lõi vẫn là công – nông – dịch vụ.

Về kinh tế đối ngoại:

Nước ta đã mở cửa nền kinh tế liên kết với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới với xu hướng ngày càng mạnh mẽ. Hoạt động xuất nhập khẩu phát triển khá. Năn 2000, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 186 USD/người, tuy còn ở mức thấp, nhưng đã thuộc loại các nước có nền ngoại thương phát triển. Tuy nhiên, tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản còn chiếm 30%. Các mặt hàng xuất khẩu ở nước ta vẫn ở dạng thô, giá trị thấp, sức cạnh tranh kém. Hơn nữa các doanh nghiệp xuất khẩu chưa làm tốt công tác xúc tiến thương mại, chưa có chiến lược xuất khẩu dài hạn ổn định lâu dài, thương mại điện tử vẫn còn mới mẻ. Như vậy, hiện tại khả năng tham gia hội nhập kinh tế thế giới của các doanh nghiệp nước ta còn thấp, đòi hỏi Nhà nước cũng như mỗi doanh nghiệp phải có giải pháp trong quá trình hội nhập thu được nhiều hiệu quả.

2. Tính tất yếu vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.

Nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần là đặc trưng phổ biến của mọi nền kinh tế thị trường. Khác nhau là ở chỗ trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, kinh tế tư nhân nói đúng hơn là kinh tế tư bản tư nhân giữ vai trò thống trị; còn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, như ở nước ta, thì kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, và kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể được xây dựng và phát triển để ngày càng trở thành nền tảng vững chắc.

Do có sự nhầm lẫn giữa Nhà nước và kinh tế Nhà nước nên có ý kiến cho rằng chỉ có Nhà nước mới làm chức năng chủ đạo, chứ kinh tế Nhà nước thì không thể giữ vai trò chủ đạo được. Cũng do có sự đồng nhất giữa doanh nghiệp Nhà nước và kinh tế Nhà nước nói chung, nên ý kiến khác cho rằng doanh nghiệp Nhà nước không thể giữ vai trò chủ đạo được bởi nó có hàng loạt những khuyết điểm và nhược điểm trong hoạt động. Thật ra, doanh nghiệp Nhà nước là bộ phận trụ cột nhất của kinh tế Nhà nước chứ không phải là toàn bộ kinh tế Nhà nước. Nói đến kinh tế Nhà nước thì phải nói đến tất cả các sở hữu trong tay Nhà nước, kể cả tài nguyên, đất đai, ngân sách Nhà nước, dự trữ quốc gia… Kinh tế Nhà nước không làm chức năng quản lý của Nhà nước nhưng chính nó là công cụ quan trọng, là sức mạnh kinh tế mà Nhà nước nắm lấy và đưa vào để làm chức năng quản lý của mình. Báo cáo Chính trị viết: ” Kinh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, doanhnghiệp Nhà nước giữ vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật.

Ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, quan hệ sở hữu còn tồn tại nhiều hình thức, là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần nhưng cơ chế thị trường chưa hoàn hảo, doanh nghiệp Nhà nước hạot động còn nhiều khuyết tật. Vì vậy, phải tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp Nhà nước để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động theo định hướng : xoá bao cấp, doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh doanh, nộp đủ thuế và có lãi, thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp. Có cơ chế phù hợp về kiểm tra, kiểm soát, thanh tra của Nhà nước đối với doanh nghiệp, kinh tế Nhà nước có giữ được vai trò chủ đạo thì mới có thể đảm bảo được định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường. Do đó phải có sự quản lý của Nhà nước.
Kinh tế Nhà nước dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, do đó đầu tư phát triển kinh tế Nhà nước là tạo ra nền tảng kinh tế cho xã hội chủ nghĩa, tạo ra sức mạnh vật chất để Nhà nước điều tiết và quản lý thị trường.
Kinh tế Nhà nước các vị trí then chốt nên có khả năng chi phối các thành phần kinh tế khác.

3. Những biểu hiện củavai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.

3.1 Làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô.

Nhà nước sử dụng chung tất cả các biện pháp có thể can thiệp vào kinh tế nhằm hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, phân bổ nguồn lực tối ưu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hoà phù hợp với giá trị truyền thống và văn hoá đất nước.

Trong kinh tế, mỗi đơn vị kinh doanh là một chủ thể kinh tế, trực tiếp đối mặt với thị trường để quyết định các vấn đề kinh tế cơ bản : sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? theo mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Điều này tất yếu dẫn đến kết cục là ở đâu, khi nào, đối với mặt hàng nào có thể đem lại lợi nhuận cao thì ở đó, khi đó các doanh nghiệp có khả năng sẽ đổ xô vào sản xuất và kinh doanh mặt hàng đó. Ngược lại, nếu ở đâu, khi nào và đối với mặt hàng nào không có lãi hoặc lỗ vốn thì ở đó, khi đó sẽ có nhiều doanhngiệp có khả năng sẽ rút khỏi thị trường sản xuất và kinh doanh mặt hàng đó. Do sự hạn chế của mỗi dịch vụ về việc thu thập cũng như xử lý các thông tin cần thiết về thị trường để quyết định có tham gia hay rút khỏi một thị trường nào đó, tất cả sẽ dẫn đến nguy cơ có thể phát sinh mâu thuẫn giữa cung và cầu ở mọi lúc, mọi nơi và đối với mọi mặt hàng. Để chống lại nguy cơ đó Nhà nước phải thực hiện chức năng điếu tiết bằng nhiều công cụ khác nhau. Trong đó doanh nghiệp Nhà nước được coi là một công cụ.

Với tư cách là công cụ điều tiết luôn được Nhà nước thực hiện theo phương châm : ở đau, khi nào nền kinh tế quốc dân đang mở rộng sản xuất kinh doanh một mặt hàng cụ thể nào đó mà các doanh nghiệp dân doanh hoặc không có đủ sức kinh doanh hoặc từ chối thì ở đó và khi đó cần sự có mặt của doanh nghiệp Nhànước. Đến lúc nào đó, khi các doanh nghiệp dân doanh đã đủ sức đáp ứng nhu cầu thị trường, doanh nghiệp Nhà nước có thể rút khỏi thị trường đó, nhường chỗ cho các doanh nghiệp dân doanh. Quá trình diễn ra liên tục, lặp lại ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân hình thành vai trò điều tiết của doanh nghiệp Nhà nước. Chức năng này còn thể hiện ở trong phạm vi từng vùng đặc biệt quan trọng với các vùng xa, vùng sâu.

Như vậy, chức năng điều tiết nền kinh tế quốc dân đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng doanh nghiệp Nhà nước như một công cụ cần thiết bảo đảm cho nền kinh tế hoạt động một cách thông suốt, đảm bảo lợi ích xã hội.

3.2 Làm đòn bẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội.

Để nền kinh tế nước ta phát triển một cách nhanh chóng thì cần phải có những bước tăng trưởng. Do vậy, cần có một lực lượng có sức mạnh kinh tế làm đòn bẩy để thúc đẩy các lực lượng khác cùng phát triển.Doanh nghiệp Nhà nước hiện nay chưa đủ khả năng chi phối toàn bộ nền kinh tế nhưng có một thực lực to lớn nên chỉ có doanh nghiệp Nhà nước mới có thể thực hiện được chức năng đòn bẩy.
Những vấn đề xã hội đang là một hạn chế lớn của nước ta. Muốn phát triển kinh tế – xã hội Nhà nước phải giải quyết triệt để những vấn đề đó. Để thực hiện được điều này chúng ta cần có thực lực về kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần như hiện nay thì chỉ có thành phần kinh tế Nhà nước mới có thể đảm nhận được vai trò làm lực lượng chủ lực cho Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội.

3.3 Mở đường hướng dẫn, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; Tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới.

KTNN kiểm soát các thị trường của hoạt động vốn và thị trường tiền tệ để bảo đảm khả năng ổn định kinh tế vĩ mô của nhà nước. Các công cụ tài chính tiền tệ, tín dụng là các công cụ chính yếu của nhà nước trong quản lý kinh tế vĩ mô.
Thành phần kinh tế nhà nước thể hiện vai trò chủ đạo chi phối các thành phần kinh tế khác, làm biến đổi các thành phần kinh tế khác theo đặc tính của mình, tạo cơ sở hạ tầng cho mỗi kinh tế hàng hoá, chiếm giữ các ngành then chốt và trọng yếu xã hội, làm đòn bảy nhanh tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội. Đóng góp phần lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của toàn xã hội.