Vai trò của Công ty xuyên quốc gia (TNCs) trong Marketing quốc tế và thị trường thế giới

1. Bước phát triển mới của TNCs ngày nay

TNCs ngày nay là kết quả của 2 thể kỷ tích tụ và tập trung hoá sản xuất. Đặc biệt trong giai đoạn 1988 – 2004, sự phát triển của TNCs đã đạt mức kỷ lục cả về lượng và chất.

Về lượng, TNCs tăng mạnh chưa từng thấy (bảng 1.2)

Như vậy, trong vòng 16 năm (1988 – 2004), TNCs đã tăng rất nhanh. Số công ty mẹ xuất hiện mới bằng cả 178 năm trước đó (1810 – 1988). Riêng số công ty chi nhánh mới gấp 8 lần 178 năm trước.

Về chất, TNCs ngày nay đã vượt xa quy mô của các liên minh độc quyền truyền thống như Cac-ten, Tờ – rớt…, kể cả kiểu liên minh Công-glô-mê-rát (Conglomerate) với hệ thống ngang dọc nhiều tầng trong những năm 1960 và 1970. TNCs ngày nay đã vươn tới những “đế chế kinh tế” toàn cầu siêu mạnh, thâu tóm các lĩnh vực thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế (gồm công nghiệp, xây dựng, vận tải, tài chính, ngân hàng, viễn thông, du lịch), kể cả nghiên cứu khoa học – công nghệ và ứng dụng công nghệ mới.

2. Vai trò của TNCs trong thương mại quốc tế

Theo thống kê của UNCTAD, năm 1998 – 1999, giá trị xuất nhập khẩu của TNCs chiếm 64% thương mại quốc tế. Trong thương mại quốc tế một số sản phẩm khác như chuối, cà phê, ca-cao, con số này lên tới 85% – 90%. Rõ ràng phần buôn bán của TNCs là rất lớn, địa vị chủ đạo của TNCs được khẳng định vững chắc trên thị trường thế giới.

Trong mỗi công ty xuyên quốc gia, quan hệ thương mại nội bộ được phát triển mạnh, trong đó hoạt động xuất khẩu nội bộ bao gồm: quan hệ xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ giữa công ty mẹ với các công ty chi nhánh (Subsidiaries) và quan hệ xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ giữa các công ty chi nhánh với nhau. Nhìn chung, xuất khẩu hàng hoá – dịch vụ nội bộ có xu hướng tăng nhanh (bảng 1.3).

Tình hình trên (bảng 2.3) cho thấy rõ vai trò của TNCs nói chung và vai trò của thương mại nội bộ công ty. Trên thị trường thế giới, phần thương mại nội bộ này chiếm khoảng 50 % tổng giá trị XNK của các TNCs. Do quan hệ buôn bán nội bộ công ty của TNCs được chú trọng cho nên giá chuyển đổi (transfer pricing) trong nội bộ TNCs trở thành một trong những loại giá quan trọng của thương mại quốc tế trong nhiều thập kỷ qua và ngày càng được quan tâm nhiều hơn.

3. Vai trò của TNCs trong đầu tư quốc tế và công nghệ

– Theo UNCTAD, cho đến năm 1999, TNCs đã chiếm:
Gần một nửa tổng sản lượng thế giới,

  •  90% đầu tư trực tiếp nước ngoài,
  •  90% công nghệ mới…

Nếu năm 1995, FDI của TNCs là 315 tỷ USD thì đến năm 2000 đã lên tới 3408 tỷ USD.
– Tỷ trọng của sản xuất ở nước ngoài trong tổng tiêu thụ ở nước ngoài của TNCs đạt mức rất cao, cụ thể ở một số ngành/lĩnh vực:

  •  Thuốc lá: 92%
  • Máy tính: 90% (kể cả thiết bị văn phòng)
  •  Thực phẩm: 89% (kể cả nhà hàng ăn uống)
  •  Cao su: 88%…

Ngoài ra, phần giá trị tài sản ở nước ngoài và thuê lao động nước ngoài của TNCs thường đạt tỷ lệ rất cao. Đơn cử 5 TNCs: Royal Dutch Shell, Exxon, Nestlé, ABB và Bayer năm 1994 cho thấy, giá trị tài sản của họ ở nước ngoài chiếm từ 69% đến 90%, số lao động nước ngoài chiếm tử 54% đến 94%. Điều này cũng cho thấy thị trường nước ngoài có ý nghĩa thế nào đối với các TNCs.

– Vai trò của TNCs ngày càng được nâng cao trong nghiên cứu, phát minh công nghệ và ứng dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh quốc tế. Hầu như TNCs luôn luôn đi đầu trong cuộc cách mạng khoa học – công nghệ toàn cầu…

4. Danh sách 500 công ty lớn nhất toàn cầu (của tạp chí Fortune)

Theo H. Schutte, nếu chỉ được nói ngắn gọn bằng hai từ về Marketing, thì đó là thị trường (Market) và doanh nghiệp (Enterprise). Do vậy, khi nói đến Marketing quốc tế, không thể quên 500 công ty lớn nhất toàn cầu do Tạp chí “Fortune”(Mỹ) thống kê hàng năm.

Tổng doanh thu hàng năm của 500 công ty này thường chiếm tới non nửa GDP toàn cầu. Thí dụ, năm 2001, mở đầu thế kỷ 21, tổng doanh thu của 500 công ty đạt 14.010 tỷ USD, chiếm 43,6% GDP toàn cầu; năm 2002 con số này đạt 13.729 tỷ USD, chiếm 44,1%.

Ngoài doanh thu, Fortune còn cung cấp nhiều thông tin quý khác như lợi nhuận, tài sản, số nhân viên của mỗi công ty, số lượng công ty của từng nước…Thí dụ, Mỹ năm 2002 có tất cả 192 công ty trong danh sách này nhưng năm 2005 chỉ còn 176 công ty, với doanh số là 6.221,9 tỷ USD. Như vậy năm 2005, Mỹ chiếm 35,2% về số lượng công ty và 37% về doanh thu của 500 công ty lớn nhất toàn cầu.

Trong Marketing quốc tế, nội dung nghiên cứu đầy đủ 500 công ty đó cho phép phân tích được nhiều khía cạnh khác nhau về kinh tế và thương mại toàn cầu cũng như kinh tế, thương mại của từng nước chủ yếu, kể cả quy mô thị trường hoạt động, hiệu quả kinh doanh, đối thủ cạnh tranh.