Vai trò của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại

Kể từ khi đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế -xã hội, trong đó có sự đóng góp quan trọng của kinh tế tư nhân, thể hiện qua tỷ lệ phần trăm trong cơ cấu GDP, qua giải quyết số lượng lớn công ăn việc làm và những đóng góp vào quá trình phân phối lại thu nhập, giảm bớt sự phát triển không đồng đều giữa đô thị và nông thôn. Riêng về thương mại vai trò của kinh tế tư nhân ở Việt Nam nói chung và ở Đà Nẵng nói riêng thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
                        - Góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hoá và thúc đẩy thương mại hàng hoá phát triển:
Sản xuất và lưu thông là hai phạm trù không thể tách rời trong sản xuất hàng hoá, nó là điều kiện tiền đề cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế. Thương mại là lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp trong lưu thông hàng hoá, lưu thông trì trệ sẽ gây cản trở duy trì và mở rộng sản xuất, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế-xã hội. Vì vậy, nó có vị trí trung gian cần thiết, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, bao gồm tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân. Nó là khâu hậu cần của sản xuất, vừa là tiền đề của sản xuất và là khâu không thể thiếu được trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội. Kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại, một mặt cung ứng cho các chủ thể sản xuất kinh doanh khác những tư liệu sản xuất cần thiết, tạo điều kiện cho tái sản xuất của các chủ thể đó được tiến hành một cách thuận lợi, ví dụ như mua nông sản cho các nhà máy chế biến và xuất khẩu, cung ứng phân bón, thuốc trừ sâu cho nông dân… Mặt khác, kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại giúp cho nhà sản xuất tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá được thực hiện giá trị nhanh chóng sẽ rút ngắn thời gian lưu thông, làm tăng tốc độ tái sản xuất. Thông qua hoạt động của mình kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại đã mở đường tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp
Kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại có vai trò là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, thông qua hoạt động thương mại trên thị trường, các chủ thể kinh doanh mua, bán các hàng hoá, dịch vụ. Điều đó bảo đảm cho quá trình tải sản xuất được tiến hành bình thường, lưu thông hàng hoá, dịch vụ thông suốt. Vì vậy, không có hoạt động thương mại phát triển thì sản xuất hành hoá không thể phát triển được.
Thông qua việc mua, bán hàng hoá, dich vụ trên thị trường, kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại có vai trò quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiêu dùng nâng cao mức hưởng thụ của các cá nhân và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất và mở rộng phân công lao động xã hội, thực hiện cách mạng khoa học công nghệ trong các ngành của nền kinh tế quốc dân. Vai trò phục vụ quá trình lưu thông của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại được thể hiện thông qua tỉ trọng của kinh tế tư nhân trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội. Năm 2005, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội của kinh tế nhà nước chiếm 12,9% tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội của cả nước; tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội của kinh tế tư nhân chiếm 83,3%; tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3,8%
Như vậy, vai trò của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại cung ứng hàng hoá và doanh thu dịch vụ cho nền kinh tế ngày càng to lớn. Điều này cũng thể hiện thế mạnh của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại.
Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế diễn ra mạnh mẽ, kinh doanh thương mại phát triển ra ngoài phạm vi quốc gia, trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá (thương mại quốc tế) nên càng có tác dụng to lớn, tiếp thu nguồn lực từ bên ngoài và mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất ở trong nước, xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài. Vì vậy kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại có vai trò là cầu nối gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách mở cửa.
         -  Đóng góp ngày càng lớn trong GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
           Phát triển về số lượng: Kinh tế tư nhân Việt Nam trong những năm qua phát triển mạnh mẽ và trở thành động lực phát triển của đất nước. Về số lượng cũng tăng nhanh với những loại hình sở hữu đa dạng phong phó.
. Về hé kinh doanh cá thể: Hình thức kinh doanh này tăng nhanh qua các thời kỳ. Năm 2003 có khoảng 800.000 hé kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh, đưa tổng số hộ kinh doanh cá thể trong cả nước lên hơn 2,5 triệu hé; năm 2005 là trên 2,9 triệu hộ, với tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 127.395,381 tỉ đồng. Trong số hộ kinh doanh cá thể thì số hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ chiếm 51,89%, số hộ sản xuất công nghiệp chiếm 30,21%, giao thông vận tải chiếm 11,63%, xây dựng chiếm 0,81%, các hoạt động khác chiếm 5,46% [19, tr.100].  Hé kinh doanh cá thể ở Đà Nẵng năm 2001, có 18.339 hộ đăng ký kinh doanh, với số vốn đăng ký kinh doanh là 313,270 tỉ đồng; năm 2003 có 24.209 hộ với tổng vốn 499,242 tỉ đồng; năm 2005 có  28.453 hộ với tổng vốn là 548,132 tỉ đồng; trong số hộ kinh doanh cá thể thì sè hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ chiếm 66,6% [23], [24], [25], [26], [27]. Như vậy, hộ kinh doanh cá thể trong lĩnh vực thương mại chiếm tỉ trọng lớn trong các hộ kinh doanh tư nhân nói chung.
. Về các loại hình doanh nghiệp:  Cả nước, năm 2001 sè doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân là 44.314 doanh nghiệp,  năm 2002 là 55.236 doanh nghiệp, năm 2003 là 64.526 doanh nghiệp, năm 2004 là 84.003 doanh nghiệp [38]. Trong số các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỉ trọng lớn nhất: doanh nghiệp tư nhân chiếm 55,76%, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 33,68%, công ty cổ phần chiếm 2,55%, công ty hợp doanh chiếm 0,01%. Sè doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp là 20,8%, thương mại-dịch là 51,9%, nông lâm ngư nghiệp là 12,4%, vận tải là 8,3% [19, tr.98, 105]. Như vậy, trong loại hình doanh nghiệp kinh tế tư nhân ở lĩnh vực thương mại cũng chiếm tỉ lệ cao.
Với thành phố Đà Nẵng, năm 1997 có 630 doanh nghiệp; năm 2001 có 1.687 doanh nghiệp, thì đến  năm 2005, có 4.981 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 7.039,652 tỉ đồng (trong đó DNTN = 1.392; Công ty TNHH = 2.462; Công ty Cổ phần = 436; Chi nhánh và Văn phòng đại diện = 691 đơn vị). Số doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp là 591, chiếm 11,86%; Víi thµnh phè §µ N½ng, n¨m 1997 cã 630 doanh nghiÖp; n¨m 2001 cã 1.687 doanh nghiÖp, th× ®Õn  n¨m 2005, cã 4.981 doanh nghiÖp víi tæng sè vèn ®¨ng ký kinh doanh lµ 7.039,652 tØ ®ång (trong ®ã DNTN = 1.392; C«ng ty TNHH = 2.462; C«ng ty Cæ phÇn = 436; Chi nh¸nh vµ V¨n phßng ®¹i diÖn = 691 ®¬n vÞ). Sè doanh nghiÖp ho¹t ®éng trong c¸c lÜnh vùc s¶n xuÊt c«ng nghiÖp lµ 591, chiÕm 11,86%; thương mại-dịch vụ là 3.395 chiếm 68,15%; xây dựng là 315, chiếm 6,32%; ngành nghề khác là 680, chiếm 13,65%. Doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực thương mại cũng chiếm tỉ trọng lớn như tình hình chung của nước ta (phô lục 1).
Đóng góp GDP: Trong những năm qua khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam đã vươn lên trưởng thành và đóng góp 40% GDP, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 6,5%/ năm. Kinh tế tư nhân của Đà Nẵng đã vươn lên trưởng thành và đóng góp 30% GDP, năm 2005, kinh tế tư nhân đạt  3.275 tỉ đồng – chiếm 34,4%. Tốc độ tăng GDP bình quân của cả thành phố trong 5 năm từ 2001-2005 là 12,67% ,thì tốc độ tăng GDP của khu vực kinh tế tư nhân tăng là 9,69% [5], trong đó thương mại, dịch vụ chiếm 43,23%.
-  Thóc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng kim ngạch xuất khẩu: Mét trong những nội dung quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá là cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tiến bộ về khoa học công nghệ trong cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế, nhằm giải phóng sức sản xuất, nâng cao nội lực, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu tất yếu trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá của nước ta hiện nay. Để xây dựng và phát triển một nền kinh tế ổn định, vững chắc với tốc độ phát triển nhanh đòi hỏi phải xác định được một cơ cấu kinh tế hợp lý, giải  quyết hài hoà mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế. Cơ cấu kinh tế có ý nghĩa thiêt thực trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng, năng động, phát huy lợi thế tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực, tài lực. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế  luôn có sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân. Sự tham gia của kinh tế tư nhân đã xác lập lại cơ cấu đầu tư theo từng thời kỳ phát triển, góp phần nâng cao tỉ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân. Tỉ trọng tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào các lĩnh vực của nền kinh tế có sự thay đổi đáng kể qua các giai đoạn. Tỉ trọng của khu vực kinh tế tư nhân trong ngành sản xuất công nghiệp giảm nhanh từ 35% (giai đoạn 1991-1996) còn 15% (giai đoạn 1998-2000); trong ngành thương mại tăng nhanh từ 39% lên 54%; trong dịch vụ tăng từ 38,6% lên 44,1% (năm 1990). Như vậy, với sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng dần tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vô
Về kim ngạch xuất khẩu: Trình độ sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân ngày càng tiến bộ, số lượng hàng hoá thay thế hàng hoá nhập khẩu tăng lên. Chất lượng nhiều mặt hàng tăng đã góp phần đẩy lùi sự xâm nhập của hàng ngoại. Bên cạnh việc thực hiện sản xuất đồng bộ sản phẩm hàng hoá xuất khẩu, khu vực kinh tế tư nhân còn tham gia nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Kim ngạch xuất nhập khẩu trực tiếp của khu vực phi nông nghiệp trong tư nhân đến nay đã tăng khá nhanh, năm 2001 nhập khẩu đạt 3,336 tỉ USD, xuất khẩu đạt 2,851 tỉ USD (Công ty TNHH Kim Anh ở Sóc Trăng có kim ngạch xuất khẩu hơn 100 triệu USD, đứng đầu cả nước). Một số sản phẩm chủ yếu như thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ, may mặc, đồ da vv…chiếm tỉ trọng đáng kể trong xuất khẩu. Trong 474 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, thì có 3/4 sản lượng sản xuất ra được xuất khẩu, trong đó hàng đệt may và giày da chiếm tỉ lệ xuất khẩu cao là 80,5% và 80%. Điều này thể hiện sự đóng góp to lớn của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại vào xuất khẩu [19, tr.139].
Các doanh nghiệp tư nhân có vai trò to lớn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt đối với các khu vực ngoài thành. Doanh nghiệp ở khu vực tư nhân của Đà Nẵng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế  tiếp tục theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp-xây dựng, giảm tương đối tỉ trọng ngành nông nghiệp. Đến năm 2005, tỉ trọng các ngành trong GDP của thành phố: Công nghiệp chiếm 51,09%, thương mại, dịch vụ chiếm 43,23%, nông nghiệp chiếm 5,68%. Tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực tư nhân năm 2001 đạt 21,773 triệu USD, chiếm tỉ trọng 3,4% so với tổng kim ngạch của thành phố; năm 2003 là 28,6 triệu USD, chiếm 4,5%;  năm 2005, đạt 29,1 triệu USD, chiếm tỉ trọng 6,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của thành phố và tăng 1,7% so với năm 2003 [28], [29], [30], [31], [32].
           –  Giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế việc di dân vào đô thị:
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra nhiều việc làm trong những năm gần đây, trong khi số việc còn làm ở khu vực Nhà nước có xu hướng giảm liên tục. Trong quá trình đẩy mạnh cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê và giải thể các doanh nghiệp nhà nước, thì việc dôi ra một số lượng lao động là điều không thể tránh khỏi. Các doanh nghiệp tư nhân có khả năng tạo ra việc làm với mức đầu tư thấp và chủ yếu bằng vốn của dân, mà lẽ ra Nhà nước phải tốn rất nhiều vốn đầu tư để giải quyết việc làm. Giải quyết có hiệu quả vấn đề thất nghiệp từ đó dẫn đến giảm bớt các tệ nạn xã hội và tạo ra sự phát triển hài hoà cho nền kinh tế.
Năm 2005, khu vực tư nhân trong nước thu hót 2.475.448 lao động, chiếm 42,9%, trong đó kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại chiếm lượng lớn (sè lao động ở khu vực Nhà nước chiếm 38,99%, lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18,11%). Theo báo cáo điều tra của Viện nghiên cứu Quản lý Trung ương cho thấy, các doanh nghiệp tư nhân với trung bình 70-100 triệu đồng vốn đầu tư sẽ tạo ra được một chỗ việc làm, trong khi đó con số này đối với doanh nghiệp nhà nước là 210-280 triệu đồng. Ngoài ra một số lượng lớn doanh nghiệp đăng ký tăng vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, do đó tăng thêm việc làm mới khoảng 1,2-1,4 triệu lao động. Tỷ trọng thu hót lao động của các doanh nghiệp tư nhân trên phạm vi cả nước có xu hướng tăng lên [19, tr.122].
 Sự phát triển kinh tế của thành phố Đà nẵng trong những năm qua đã tạo cơ hội việc làm cho một tần líp dân cư đông đảo, từ đó hàng năm trên 1 vạn người được giải quyết việc làm. Tỉ lệ thất nghiệp trong khu vực thành thị giảm từ 6% (trong năm 1997) xuống còn 4,33% (năm 2004). Theo số liệu thống kê của thành phố Đà Nẵng, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động: Năm 1999 sè lao động trong khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố là 61.621 người; năm 2001 tăng lên 82.381 người; năm 2005, sè lao động ở doanh nghiệp tư nhân là 116.687 người, tăng 29,4% so với năm 2001, trong đó hơn 50% của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại