Vai trò của mô hình công ty mẹ công ty con trong nền kinh tế thế giới

- Thực hiện phân công lao động quốc tế:

nét điển hình của quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày nay là sự phân công chuyên môn hoá mà các công ty xuyên quốc gia là lực lượng cơ bản thực hiện. Đặc điểm của sự phân công này là chuyên môn hoá sâu. Về hình thức bề ngoài thì giống như công trình thủ công của cuối thế kỷ trước, nhưng nội dung, hình thức và quy mô thì hoàn toàn mới. Điểm nổi bật là quy trình công nghệ được phân chia thành những công đoạn và phân công cho xí nghiệp, chi nhánh đóng tại các nước chử nhà tuỳ theo điều kiện cụ thể và trình độ lao động, nguyên liệu thị trường. Thông thường công ty mẹ và công ty chi nhánh ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đòi hỏi những khâu đòi hỏi trình độ công nghẹ cao phức tạp của dây truyền sản xuất còn các chi nhánh ở các nước đang phát triển tuỳ điều kiện cụ thể có thể đảm nhận các khâu ít phức tạp hơn, hoạc chỉ đòi hỏi lao động giản đơn. Thí dụ trong việc sản xuất máy tính diện tử hiện nay của công ty xuyên quốc gia nhật bản, Mỹ…Việc phân công chuyên môn hoásản xuất trên phạm vi thế giới là một tiến bộ có tính lịch sử, nó khai thác được tiềm năng và thế mạnh của từng nước, từng khu vực tạo ra mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và phản ánh quá trình tất yếu kinh tế kỹ thuật.

– Đẩy mạnh kinh tế thị trường tiền tệ trên phạm vi thếgiới:

với hàng trăm ngàn chi nhánh rải rộng khắp thế giới, mô hình công ty mẹ công ty con trở thành một lực ,lượng đông đảo nắm giữ nguồn hàng hoá và thị trường thế giới. Hiện các công ty xuyên quốc gia đã kiểm soát 60% buôn bán quốc tế. Trong nhiều ngành hàng các công ty này đã kiểm soát toàn bộ thị trường. Chẳng hạn, với một số nông sản phẩm như chè, cà phê, ca cao các công ty này dã kiểm soát 80% 90% thị phần. Với mạng lưới chi nhánh dày đặc các công ty xuyên quốc gia đã khai thác được mọi nguồn hàng tiền năng của thế giới và có thể nói mọi sản phẩm của thế giới được lôi cuốn váo thị trường. Cùng với việc phân công chuyên môn hoá, các công y xuyên quốc gia đã khai thác được thị trường tại chỗ, giảm chi phí vận chuyển, hạ giá thành nâng cao sức cạnh tranh. Cùng với những sản phẩm hàng hoá thông thường mang tính truyền thống thé giới hàng hoá được bổ xung hàng loạt các mặt hàng mới dưới sự tác động của các công ty xuyên quốc gia thực hiện tạo ra sự chao đổi dưới hình thức hàng hoá. Đồng thời, phương thức trao đổi trong phạm vi quốc tế. Song điều không thể tránh khỏi là do quá trình chạy theo lợi nhuận, các công ty xuyên quốc gia đã biến dạng mối quan hệ hàng hoá- tiền tệ, gây ra những hiện tượng tiêu cực trong thị trường trên phạm vi thế giới. Chính vì vậy không những các nước đang phát triển mà ngay cả cácnước tư bản phát triển đều hết suức quan tâm đến việc đưa ra những điều lệ ngăn cấm sự lộng hành của các công ty xuyên quốc gia, trong đó lĩnh vực lưu thông hàng hoá và tiền tệ dược nhấn mạnh nhất.

– Đối với khoa học kỹ thuật :

với việc cạnh tranh và tìm kiếm lợi nhuận, với tiềm lực khoa học kỹ thuật đã được tích luỹ trong nhiều thập kỷ, các công ty xuyên quốc gia đã đi đầu trong việc nghiên cứu, thử nghiệm những dây truyền công nghệ tiên tiến nhất, nhiều năng lượng công nghệ, sản phẩm dạt tới trình độ tiên tiến nhất, nhiều dạng năng lượng mới được nghiên cứu và áp dụng với từng mức độ, nhiều dây truyền công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu mới gia đời, phương pháp tự động hoá, sử dụng rô bốt, phương pháp điều khiển từ xa trong quản lý… đã được áp dụng ở công ty mẹ ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa và ở một số chi nhánh ở các nước đang phát triển với trình độ tiên tiến hơn. Do vậy chúng trở thành người có vai trò càng lớn trong viẹc thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học công nghệ toàn thế giới, làm cho các nước tư bảnphát triển có ưu thế trong cuộc cạnh tranh kinh tế; khoa họccông nghệ ngày nay của thời đại chúng ta và thích nghi với điều kiện lịch sử mới. đồng thời chúng chiếm vị trí to lớn trong việc thực hiện quá trình công nghiệp hoá của các nước đang phát triển. Điều đó đòi hỏi các quốc gia này phải có chiến lược kinh tế đúng đắn để sử dụng những thành tựu khoa học công nghệ cuă loài người, tránh nguy cơ tụt hậu, rút ngắn khoảng cách lịch sử trong cuộc chạy đua kinh tế. Nắm trong tay lực lượng khoa học công nghệ của thế giới các công ty xuyên quốc gia đang đóng vai trò “trợ thủ” quan trọng trong sự phát triển khoa học – công nghệ đối với những nước lạc hậu, vai trò này được biẻu hiện trên nhiều khía cạnh như: thực hiên chuyể giao công nghệ từ công ty mẹ sang công ty chi nhánh cũng như từ nước mẹ sang các nước chủ nhà; thực hiện đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề. Tuy nhiên các công ty xuyên quốc gia thực hiện việc làm của mình với mục đích và phương thức riêng nằm trong chiến lược chung của các nước mẹ. Vì vậy quá trình chuyển giao kỹ thuật, công nghệ là một quá trình chứa đựng nhiều mâu thuẫn và hậu quả các nước nhập khẩu kỹ thuật công nghệ phải gánh chịu không phải là nhỏ.

– Đối với việc làm và tay nghề lao động:

việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ( nói chung là tay nghề) là vấn đề tất yếu dối với mọi doanh nghiệp, bởi vì người lao động là một yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất. Thiếu yếu tố đó hoặc có nhưng chất lượng kém thì hoặc là không có quá trình sản xuất riễn ra hoặc là sản phẩm tạo ra không có sức cạnh tranh. Do vậy các công ty xuyên quốc gia luôn quan tâm đến tay nghè người lao động thông qua các hình thức đào tạo dài hạn, ngắn hạn, chính quy hoặc tại chức về mặt cán bộ quản lýcũng vậy, đã được công y xuyên quốc gia đặt lên hàng đầu, nhất là các cán bộ quản lý đặt lên số một. đối với cán bộ quản lý việc lựa chọn cũng được thực hiện nghiêm ngặt, đặc biệt là những cán bộ chủ chốt thường không để người có quốc tịch là nước chủ nhà đảm nhận và đào tạo, bồi dưỡng bao giờ cũng gắn liền với việc quản lý, nhằm ngăn ngừa tình trạng những người được qua đào tạo chuyển sang xí nghiệp nước chủ nhà. Cho đến nay, các công ty xuyên quốc gia đã tạo ra một khối lượng việc làm tương đối lớn. Đây là điều đáng mừng cho nền kinh tế thế giới.

– Đối với đầu tư trực tiếp và chuyển dịc cơ cấu kinh tế:

các công ty xuyên quốc gia là lực lượng cơ bản trong việc thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mặc dù tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp trong tổng số vốn đầu tư của từng nước chủ nhà không cao, song đây là nguồn vốn quan trọng và khó có thể thay thế vì nó tạo ra những kết quả phát sinh khác, như chuyển giao công nghệ tạo thêm việc làm, phát triển dịch vụ và các nguồn thu phụ thêm cho nước chủ nhà. Tuy nhiên cũng phải thấy tính chất hai mặt của đầu tư trực tiếp mà các công ty xuyên quốc gia thực hiện. Một mặt tăng thêm nguòn vốn cho nước chủ nhà và các hệ quả lợi ích khác, song mặt khác nếu không quản lý giỏi tì chính qua đó cũng để lại những hậu quả ngoài mong muốn. Cùng với sự biến đổi cơ cấu ngành, cơ cấu lao động cơ cấu vùng cũng thay đổi theo trong đó việc hình thành các công ty thương mại, công nghiệp kỹ thuật cao, đồng thời cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ phù hợp với yêu cầu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ.
5.chuyển đổi các tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước theo mô hình công ty mẹ công ty con và việc thí điểm chuyển đổi mô hình trên ở một số doanh nghiệp việt nam.

– Mô hình công ty mẹ công ty con ở nước ta và cánh thức chuyển đổi tổng công ty 90-91 sang mô hình công y mẹ công ty con:

Với các quyết định số 90-91/TTg ngày07-03-1994 của thue tướng chính phủ, tất cả các liên hiệp xí nghiệp theo ngành toàn quốc hoặc ngành địa phương trước đây đã chuyển nhanh chóng sang mô hình tổng công ty. Điều đó đã làm được bởi vì chỉ là sự dổi tên cơ quan, có thay đổi một chút về chức năng của tổng công ty so với liên hiệp xí nghiệp do thực hiện nguyên tắc phân biệt quản lý nhà nước về kinh tế với quản trị kinh doanh của doanh của doanh nghiệp, có sắp sếp lại một chút về tổ chức và nhân sự. Cơ chế quản lý về cơ bản không thay đổi. Nay việc chuyển tổng công ty sang mô hình công ty mẹ công ty con không thể thoe con đường cũ được bởi vì nó là hai hệ thống khác nhau về căn bản. Do đó con đường khả thi cho việc chuyển tổng công ty 90-91 sang mô hình công ty mẹ công ty con cần thực hiện theo các bước sau:

+ Nhà nước ban hành luật mới cho loại hình doanh nghiệp này. Công ty mẹ là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt nó không thuần tuý là một doanh nghiệp nhà nước để được điều chỉnh theo luật doanh nghiệp nhà nước hiện hành bởi nó có những tình tiết đặc thù. Thứ nhất là công ty mẹ hoạt động tài chính là chủ yếu về mặt này chúng có điểm giống với công ty tài chính, các ngân hàng đầu tư. Thứ hai là công ty mẹ phải thực hiện nhiệm vụ chính trị khi can thiệp vào các công ty con chứ không thuần tuý theo đuổi mục tiêu lợi nhuận. Có nghĩa là một công ty tài chính hay một ngân hàng đâu tư, khi bỏ tiền ra mua cổ phần tại một công ty tài chính hay một ngân hàng đầu tư, khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu cua một công ty nào, họ quan tâm chủ yếu đến cổ tức mọi sáng kiến chỉ làm cho lợi nhuận công ty tăng lên nhưng công ty mẹ khi đóng vai trò một cổ đông trong các công ty con diễn ra theo định hướng nhà nước đó chính la vai trò chủ đạo của công ty mẹ với tư cách một công ty nhà nước. Vì lẽ trên công ty mẹ cần được điều chỉnh bằng một luật riêng, luật này có thể gọi là luật công ty nhà nước. Nội dung luật bao gồm toàn bộ các chế định về hình thức tổ chức và phương thức hoạt động, quản lý của loại hình công ty mẹ dối với công ty con.

+ vai trò chức năng của công ty mẹ: công ty mẹ điều tiết công ty con về các hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp với đường nối chủ trương của đảng, pháp luật, kế hoạch và chủ trương của nhà nước, không chỉ dừng lại ở chức năng người chủ sở hữu vốn thuần tuý. Chuyển đổi phương thức quản lý hành chính của tổng công ty 90-91 sang phương thức điều tiết qua địa vị pháp lý của một cổ đông. Sự điều tiết của công ty mẹ đối với công ty con có hiệu lực cao hay thấp phụ thuộc vào số vốn cuả công ty mẹ tại công ty con và sự xuất sắc của người đại diện. Đương nhiên công ty mẹ phải tìm cách dành ưu thé tại công ty con bằng con đường tăng cổ phần và qua sự tập chung cố vấn để người đại diện của mình tại công ty con hoàn thành xuất sắc sứ mạng đại diện. Về địa vị pháp lý trước nhà nước công y mẹ là một đơn vị hặch toán kinh tế dùng vốn nhà nước để ddầu tư lấy lợi nhuận cổ phần dể trng trải chi phí quản lý và nộp ngân sách theo định mức. Với số vốn do nhà nước giao quản bộ máy quản lý công ty mẹ chọn nơi đầu tư để chở thành cổ đông cử đại diện cho công ty mẹ tại công y con. Đó la nội dung quản lý của công ty mẹ.

+ phương thức chuyển đổi:

sau khi có luậtcác tổng công ty 90-91 hiện hành sẽ được tổ chức chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ công ty con theo từng phương án cụ thể giống như phương án cổ phần hoá từng doanh nghiệp nhà nước. Trong số 17 tổng công ty 91 và 77 tổng công ty 90 có thể có một số tổng công ty không chuyển đươcj hoạc không chuyển được ngay sang mô hình công ty mẹ công ty con. Chúng tạm thời tồn tại dưới hình thức cũ khi nào có diều kiện thì chuyển các doanh nghiệp nhà nước ( thành viên của tổng công ty) sẽ được chuyển thành các công ty trắch nhiệm hữu hạn công ty cổ phần bằng con đường cổ phần hoá. Những doanh nghiệp nhà nước không cổ phần hoá sẽ được chuyển công ty trắch nhiệm hữu hạn một thanhf viên các tổng công ty 90 91 sẽ chuyển thành cổ đông của các công ty cổ phần trong quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước thành viên các công ty trắch nhiệm hữu hạn va chủ thể cua công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên về mặt tài chính sẽ diễn ra các động tác sau chuyển dao vốn của các doanh nghiệp nhà nước vào tài khoản vốn của công ty mẹ vốn này cùng với vốn nhà nước trong các công ty cổ phần làm thành vốn điều lệ của công ty mẹk công ty mẹ chính thức nhận và chịu trách nhiệm tước nhà nước số vốn này về hai mặt bảo toàn giá trị và sinh lợi các công ty mẹ làm thủ tục thành lập công y trách nhiệm hữu hạn một thành viên đối với các doanh nghiệp nhà nước chưa có kế hoạch cổ phần hoá cần duy trì hình thức doanh nghiệp nhà nước trong một thời gian nào đó và lập phương án chủ quản công ty trách nhiêmj hữu hạn một thành viên này theo luật doanh nghiệp hiện hành các công ty mẹ tiến hành cổ phần hoá các donhnghiệp nước bién chúng thành công ty con và thiết lập quan hệ quản lý theo luật các công ty nhà nước các ty mẹ sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước còn lại bằng các biện pháp cần thiết khi có điều kiện thích hợp riêng các doanh nghiệp nhà nước thuộc các tổng công ty 90 91 chưa chuyển sang mô hình công ty mẹ công ty con vẫn hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước đó là giai đoạn quá độ cần có nhưng không kéo dài quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nói riêng mọi hình thức doanh nghiệp nói chung hiện đang là đề tài có tính thời sự cao lời giải cho các vấn đề này còn phải công phu tìm kiếm trên đây chỉ là một vài suy nghĩ xin được đóng góp cùng dư luận.

– áp dụng mô hình công ty mẹ công ty con:

Mô hình trên rất cần thiết với các nước trên thế giới đặc biệt là với Việt Nam. Ở Việt Nam đã áp dụng mô hình công ty mẹ và công ty con ở một số công ty như: tổng công ty bưu chính viễn thông. Công ty đầu tư xuất khẩu, công ty điện lực, công ty dầu khí. Tiêu biểu trong số các công ty trên là công ty bưu chính viễn thông.

Sau những năm hoạt động theo mô hình tổng công ty 90 91, tổng công ty bưu chính viễn thông việt nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Chính phủ đã cho thí điểm hình thành ttập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con trong lĩnh vực viễn thông liên kết với bưu chính. Để việc thực hiện mô hình mới có hiệu quả cần có sự chỉ đạo của chính phủ và sự chuẩn bị chu đáo, tránh hình thức tổng cục bưu điện cũ đã tổ chức hội thảo để thông suốt chủ trương trong cán bộ coong nhân viên toàn tổng công ty. Mô hình công ty mẹ công ty con đã được các nước công nghiệp phát triển sử dụng, Trung quốc là nước có chế độ chính trị tương tự như nước ta cũng áp dụng phổ biến, có diều kiện khác biệt là các tập đoàn đó đã cổ phần hoá mạnh mẽ,tiềm lực tài chính kỹ thuật , công nghệ tưong đối mạnh. Hiện nay mô hình công ty mẹ công ty con của tập đoàn kinh tế thế giới thương có hai loại cơ bản: Loại chủ thể, loại này do một đơn vị có tiềm lực vốn, công nghệ mạnh nhất là công ty mẹ, tập hợp nhiều công ty , đơn vị nhỏ hơn dưới sự điều tiết của công ty mẹ thành một tập đoàn. loại hình chủ thể do đơn vị lớn nhất lắm quyền chỉ huy tuyệt đối, các thành viên có 3 khối chính, khối trung tâm gồm có công ty mẹ, bộ phận sự nghiệp, các đơn vị sản xuất, tất nhiên là tập đoàn sẽ có nhiều bộ phận sự nghiệp và đợn vị nhưng nhất thể hoá về lợi nhuận, cùng một pháp nhân, các bộ phận sự nghiệp là trung tâm làm ra lợi nhuận là trung tâm làm ra lưọi nhuận được uỷ quyền kinh doanh, đơn vị chỉ lo sản xuất tập đoàn lo vốn và đầu tư. Nhật Bản và hàn quốc sử dụng hình thức này khá phổ biến. Khối thứ hai gồm một hay nhiều đơn vị, công ty vốn đầu tư tỷ lệ cao của tập đoàn, họ có quyền pháp nhân. Khối thứ ba gồm những đơn vị công ty có quyền pháp nhân riêng nhưng có một phần cổ phần cổ phần của công ty mẹ. Khối thứ hai và ba có mức khống chế của tập đoàn lỏng dần nhưng phải phụ thuộc vào nhau dể tồn tại và phát triển phụ thuộc vào sức mạnh vào khối trung tâm. Các tập đoàn khi áp dụng hình thức này có những đặc điểm sau: Khối hai và ba thường có mấy chục đơn vị ngoài nhiệm vụ cung cấp cho khối của tập đoàn, họ còn kinh doanh các mặt hàng khác với khách hàng đa dạng hơn; Công ty mẹ thường sản xuất kinh doanh đa dạng sản phẩm dịch vụ, chuyên môn hoá cao, thường chiếm tỷ lệ doanh thu khoảng 70%-80% của tập đoàn; khối trung tâm của tập đoàn chung một tổng hành trình, doanh thu, giá cả các số liệu do công ty mẹ cung cấp thống nhất.

Laọi quản lý: đơn vị lắm cổ phần lớn nhất của công ty mẹ lắm quyền chỉ huy điều phối, các thành viên là các đơn vị có quyên pháp nhân riêng, tập hợp trong tập đoàn. Trong loại hình quản lý cũng có ba khối chính. Khối trung tâm gồm công ty mẹ và tổng hànhchính có pháp nhân dộc lập với nhiệm vụ chính là quản lý và khống chế, các thành viên trong khối trung tâm có quyền pháp nhân nhưng do công ty mẹ chi phối quản lý; khối thứ hai là các đơn vị độc lập nhưng có cổ phần chi phối của trung tâm; khối thứ ba la khối có một cổ phần của khối trung tâm, loại hình này không phổ biến ở một số tập đoàn lớn. Các tập đoàn khi áp dụng hình thức này có đặc điểm sau: chức năng tổ chức và quản lý sản xuất tách biệt, các đơn vị sản xuất có quỳen pháp nhân riêng thường số lượng đơn vị không nhiều, công ty mẹ lo quản lý, đầu tư kinh doanh tài chính. Do bộ phận quản lý không trực tiếp làm ra lợi nhuận, cán bộ ít lên vạch ra chiến lược và chỉ đạo thực hiện. Khi xuất hiện đối ngoại các số liệu là số liệu của tập đoàn không phải là của công ty mẹ. Với tình hình thực tế, tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam, trước hết phải nhìn rõ hạn chế của tổng công ty thật chính xác ở chỗ nào từ đó mới có phương án phù hợp thực tiễn, đổi mới và nhất la đạt được mục đích xã hội háo quyền sở hữu tai sản trong doanh nghiệp giữa các bên. Để thí điểm thành công trên mức độ nào đó việc trước tiên phải có sự chỉ đạo tập chung, có quyền lực để tiến hành cổ phần hoá mạnh hơn, đánh giá vốn tìa sản chính xác nợ lần được ưu tiên sử lý giải quyết, bổ nhiệm cán bộ hay thêu giám đốc. Ngoài ra cũng cần chú ý là một doanh nghiệp có quy mô lớn không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với doanh nghiệp mạnh. Vì vậy cần loại bỏ cách tư duy một chiều cứ có công ty mẹ công ty con là mạnh sẽ chỉ có công y mẹ công ty con mạnh nếu toạ ra được các điều kiện cần thiết về khả năng quản trị nhân cách của đội ngũ các nhà quản trị. Tóm lại đây là một công ty đi đầu trong việc thực hiện mô hình trên nó góp phần cung cấp kinh nghiệm và các bài học cho các công ty khác trong vệc tiến lên mô hình công ty mẹ công ty con.