Vai trò của Nhà nước trong lịch sử là gì?

Nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị được sử dụng để duy trì trật tự xã hội cho phù hợp với lợi ích của nó.

Trong lịch sử xã hội loài người đã có thời kỳ không có Nhà nước. Đó là thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, do trình độ phát triển thấp kém của lực lượng sản xuất, con người cùng sống, cùng lao động cùng hưởng thành quả chung. Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, xã hội không có người giàu nghèo, người nghèo, không phân chia giai cấp, không có đấu tranh giai cấp. Cơ sở kinh tế đã làm xuất hiện hình thức tổ chức xã hội là thị tộc. Quyền lực trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ là quyền lực xã hội với hệ thống quản lý rất đơn giản không mang tính giai cấp.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động xã hội đã làm thay đổi tổ chức xã hội thị tộc. Chế độ tư hữu xuất hiện, đã phân chia xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, hình thành giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ. Những yếu tố mới xuất hiện đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, làm cho chế độ thị tộc không thể đứng vững được. Một xã hội mới với sự phân chia giai cấp không thể điều hoà được hỏi phải có một tổ chức mới có khả năng giập tắt được xung đột giai cấp ấy, tổ chưcư ấy là Nhà nước. Như vậy Nhà nước xuất hiện một cách khách quan, không phải là một lực lượng từ bên ngoài đặt vào xã hội mà theo Mác và Ăng ghen đó là một lực lượng từ bên ngoài đặt vào xã hội, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội có nhiệm vụ làm dịu bớt xung đột và giữ cho xung đột đó nằm trong vòng trật tự.

Do vậy, chúng ta có thể thấy rằng Nhà nước chỉ ra đời và tồn tại trong xã hội có giai cấp, là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay của giai cấp thống trị, là công cụ sắc bén nhất để duy trì sự thống trị giai cấp. Tuy nhiên, Nhà nước không chỉ là người bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị mà còn quan tâm đến nhiều lĩnh vực khác trong xã hội.

Trong lịch sử đã chứng minh, Nhà nước không chỉ có chức năng quản lý lãnh thổ, quản lý trật tự xã hội mà Nhà nước còn có một chức năng nữa đó là chức năng kinh tế, chức năng đòi hỏi phải ngay từ buổi đầu khi Nhà nước mới xuất hiện.

Trong thời đại chiếm hữu nô lệ, Nhà nước chủ nô – kiểu Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã trực tiếp dùng quyền lực của mình can thiệp vào việc phân phối của cải sản xuất của giai cấp chủ nô, nhưng khối lượng của cải ấy không được phân phối mà bị giai cấp chủ nô chiếm đoạt bằng bạo lực phi kinh tế.
Trong thời đại phong kiến, Nhà nước phong kiến không chỉ can thiệp vào việc phân phối của cải mà còn đứng ra lập lực lượng nhân công xây dựng kết cấu hạ tầng cho sản xuất nông nghiệp, khuyến khích qua lại, di dân, mở đường các vùng kinh tế mới, đề ra những chính sách ruộng đất thích hợp với từng thời kỳ.

Còn trong thời đại tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản được hình thành vào thế kỷ XV, quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản được thực hiện nền kinh tế phát triển nhanh, giai cấp tư sản cần có sự hỗ trợ của Nhà nước. Chính vì vậy vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước ngày càng được xác lập và nâng cao. Nhà nước tư sản đã thực hiện một chính sách tiền tệ, không cho tiền chạy ra nước ngoài. Nhà nước của các nước tư bản trong giai đoạn này đã đề ra buộc các tư thương nước ngoài không mang tiền ra khỏi nước họ, chỉ được phép mang hàng mà thôi. Trong chính sách ngoại thương, họ dùng hàng rào thuế quan bảo hộ đánh thuế xuất nhập khẩu cao hơn so với hàng hoá nhập khẩu và thấp đối với hàng hoá xuất khẩu ở trong nước. Mặt khác, Nhà nước còn hỗ trợ cho các thương nhân các phương tiện vật chất và tài chính khi họ tham gia buôn bán quốc tế. Nhờ các chính sách đó, các nước tư bản đã tích luỹ được một lượng tiền tệ và của cải đáng kể vì vậy đầu thế kỷ SVIII giai cấp tư sản tập trung phát triển mạnh lĩnh vực sản xuất. Nhờ áp dụng các kỹ thuật và công nghệ mới, nền sản xuất ở các nước tư bản phát triển rất nhanh. Tự do cạnh tranh đã trở thành đòi hỏi cấp thiết trong đời sống kinh tế của các nước này.

Chính vì thế, các nhà kinh tế học cổ điển đã ủng hộ tự do cạnh tranh. Tiêu biểu nhất là Adam Smith – nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh đã đưa ra thuyết bàn tay vô hình và nguyên lý Nhà nước không can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế. Ông cho rằng, việc tổ chức nền kinh tế hàng hoá cần theo nguyên tắc tự do. Sự hoạt động của toàn bộ nền kinh tế là do các quy luật khách quan tự nhiên chi phối. Sự vận động của thị trường là do quan hệ cung cầu và sự biến đổi tự phát của giá cả thị trường quyết định. Quan hệ giữa người với người là quan hệ lợi ích kinh tế. Ông còn cho rằng, mỗi người hoạt động chỉ nhằm lợi nhuận siêu ngạch song do bàn tay vô hình chi phối buộc người ta phả phục tùng, tỷ suất lợi nhuận bình quân và để cho nền kinh tế phát triển lành mạnh, Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế thị trường, vào hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước mà Nhà nước chỉ nên thực hiện một số nhiệm vụ kinh tế vượt quá khả năng của một doanh nghiệp như làm đường, xây bến cảng…

Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, những cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra thường xuyên, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ra từ năm 1929 đến năm 1933. Đã chứng tỏ bàn tay vô hình không thể đảm bảo những điều kiện ổn định cho kinh tế thị trường phát triển.

Hơn nữa, trình độ xã hội hoá sản xuất phát triển ngày càng cao đã chỉ ra cho các nhà kinh tế học thấy rằng: cần có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình hoạt động của nền kinh tế, điều tiết nền kinh tế. Nhà nước học người Anh J M Keynes đã đưa ra lý thuyết Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường. Ông cho rằng sự tăng lên của sản xuất sẽ dẫn đến sự tăng lên của thu nhập do đó làm tăng tiêu dùng. Song dó khuynh hướng tiêu dùng giới hạn nên tiêu dùng tăng chậm hơn so với thu nhập vì vậy cần giảm xuống. Sự giảm sút cầu tiêu dùng sẽ kéo theo sự giảm sút của giá cả hàng hoá từ đó làm cho tỷ suất vay thì các chủ doanh nghiệp sẽ không có lợi trong việc vay vốn để đầu tư. Họ sẽ không đầu tư vào sản xuất kinh doanh nữa. Từ đó là cho nền kinh tế đi đến chỗ trì trệ, khủng hoảng và làm cho nạn thất nghiệp ngày càng tăng. Để khắc phục tình trạng này, Nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế, can thiệp vào thị trường và mở ra các cuộc đầu tư lớn. Theo thuyết của trường phái Keyné Nhà nước can thiệp vào kinh tế ở cả tầm vĩ mô và vi mô. Song khi thực hiện theo thuyết trường phái này thì những chấn động lớn trong nền kinh tế vẫn diễn ra. Hơn thế nữa, tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp lạm phát vẫn xảy ra ngày càng trầm trọng. Xuất phát từ thực tiễn đó các nhà kinh tế học đi theo xu hướng hỗn hợp. Ngày nay đã thừa nhận rằng: các nền kinh tế hiện đại muốn phát triển phải dựa vào cả cơ chế thị trường cũng như sự quản lý của Nhà nước.

Nổi bật là quan điểm kinh tế hỗn hợp của Paul Samuelra – một nhà kinh tế học người Mỹ. Ông cho rằng, điều hành một nền kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay. Cơ chế thị trường xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có cả chính phủ điều tiết kinh tế thị trường bằng các chương trình thuế, chi tiêu và luật lệ. Cả hai bên thị trường và chính phủ đều có tính chất thiết yếu.