Vai trò của Quan hệ quốc tế về Khoa học công nghệ

Vai trò của Quan hệ quốc tế về Khoa học công nghệ
Đánh giá bài viết

(i) Tiết kiệm được vốn đầu tư, chi phí.

(ii) Tránh được sự trùng lặp. Khi những nghiên cứu được chia xẻ thì người ta có thể nắm bắt được là hiện nay các nước khác đang nghiên cứu cái gì, đã áp dụng cái gì thì họ sẽ không tốn thời gian và tiền bạc để nghiên cứu một thứ mà nước khác đã nghiên cứu và do vậy họ sẽ giành thời gian để nghiên cứu thứ khác.

(iii) Gắn kết nghiên cứu với triển khai ứng dụng. Hiện nay, nghiên cứu có thể diễn ra ở một nơi nhưng triển khai ứng dụng lại ở nơi khác với bình diện rộng và phải nhờ có quan hệ quốc tế rất rộng thì mới có thể triển khai được. Còn nếu như không có quan hệ quốc tế thì khi công nghệ được nghiên cứu xong thì nó chỉ được áp dụng ở nước mà nơi khoa học công nghệ đó phát sinh mà thôi.

(iv) Đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước, đặc biệt là các nước đang và chậm phát triển.
Tại sao Nhật Bản kể từ sau Đại chiến thế giới thứ II chỉ sau chưa đầy 20 năm sau chiến tranh Nhật đã trở thành 1 nước công nghiệp hàng đầu thế giới vì Nhật Bản có quá trình bắt chước công nghệ có tính sáng tạo. Sau chiến tranh, Nhật không có ngân sách gì (vì là nước bại trận nên phải bồi thường chiến tranh) và không có nguồn tài nguyên gì do vậy họ bắt chước công nghệ mà thế giới có sẵn và trên nền những công nghệ có sẵn đó họ cải tiến công nghệ và kết quả là sản phẩm của Nhật hoàn toàn chiếm vị trí độc tôn trên thị trường thế giới. Nhật chủ yếu mua lại công nghệ của Mỹ, sau đó nghiên cứu các công nghệ đó và áp dụng những phần tốt, và cải tiến những phần chưa tốt và áp dụng vào sản phẩm của mình. Sau đó một thời gian dài cứ nói tới hàng điện tử là khách hàng lại muốn mua hàng điện tử của Nhật, thậm chí sản phẩm của Nhật còn chi phối cả thị trường Mỹ là nơi mà Nhật mua công nghệ. Ngoài ra còn có mặt hàng ô tô cũng là một mặt hàng thế mạnh mà Chính phủ Mỹ và Nhật phải ký Hiệp định hạn chế xuất khẩu tự nguyện – VER. Việc bắt chước công nghệ giúp Nhật hiện đại hóa một cách nhanh chóng. Đồng thời với sự bắt chước đó Nhật đã sáng tạo được nét riêng áp dụng vào sản phẩm của mình.

Phát triển công nghệ ở Nhật gắn chặt với mục đích thương mại.

Việc phát triển công nghệ luôn gắn với thương mại được thể hiện ở điểm là công nghệ phải được áp dụng vào sản phẩm, sản phẩm phải bán được và thu được lợi nhuận thì mới sản xuất, và công nghệ làm ra phải mua bán, trao đổi được tất cả mọi thứ đều quy về lợi nhuận.

– Lực lượng Khoa học công nghệ hàn lâm bao gồm các trường đại học, các viện nghiên cứu.
– Lực lượng khoa học công nghệ chính phủ chủ yếu làm về mặt chính sách khoa học công nghệ.
– Lực lượng khoa học và công nghệ doanh nghiệp, trong tất cả các tập đoàn công nghiệp Nhật đều có lực lượng nghiên cứu và phát triển do vậy các tập đoàn công nghiệp đều chủ động về mặt công nghệ mà không dựa vào lực lượng khoa học công nghệ chính phủ hoặc hàn lâm.
– Lực lượng khoa học và công nghệ thường dân. Lực lượng này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nhưng trong thời kỳ đầu phát triển công nghệ của Nhật thì lực lượng này đóng một vai trò quan trọng. Ví dụ: ông Honda – việc ông gắn động cơ vào xe đạp là một phát kiến để từ đó có chiếc xe máy hiện nay.
1970s, giới KH Nhật tranh luận về việc xây dựng các lò phản ứng hạt nhân nhằm phục vụ mục đích hòa bình, các nhà khoa học chính phủ đã lập kế hoạch nghiên cứu tự xây dựng, các trường đại học lớn đòi hỏi có thêm nghiên cứu cơ bản, các nhóm khoa học thường dân chống lại năng lượng nguyên tử. Cuối cùng Công ty điện Tokyo yêu cầu Chính Phủ mua công nghệ mỗi nhóm khoa học khác nhau thì có quan điểm khác nhau và từ đó mỗi nhóm có một hướng giải quyết khác nhau.