Vấn đề chung về kế toán kinh doanh ngoại tệ

Đánh giá bài viết

1. Những vấn đề chung về kế toán kinh doanh ngoại tệ 

1.1. Khái quát nội dung kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

Kinh doanh ngoại tệ là một trong những nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng thương mại bởi vì thông qua nghiệp vụ này, một mặt tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng thương mại, mặt khác để các ngân hàng thương mại (đặc biệt là hệ thống ngân hàng thương mại Nhà nước) góp phần điều hoà cung cầu ngoại tệ trên thị trường, ổn định tỷ giá, thực hiện chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước, từ đó có tác động tích cực đến hoạt động xuất, nhập cũng như các hoạt động khác trong nền kinh tế.

Các ngân hàng thương mại kinh doanh ngoại tệ phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép và chấp hành quy định của Nhà nước về quản lý ngoại hối.

– Kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại có các hình thức chủ yếu sau:
+ Mua bán ngoại tệ:
Mua bán trao ngay (Spot)
Mua bán theo hợp đồng kỳ hạn (Forward)
Nghiệp vụ hoán đổi kép (Swap).
v..v…

Việc mua bán có thể thực hiện trực tiếp giữa các ngân hàng với khách hàng là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân hoặc thực hiện ở thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.

+ Chuyển đổi ngoại tệ hay kinh doanh giữa các loại ngoại tệ với nhau.

Chuyển đổi ngoại tệ là việc đổi loại ngoại tệ này lấy một loại ngoại tệ khác: Nghiệp vụ này được áp dụng đối với khách hàng trong nước và chuyển đổi ngoại tệ ở nước ngoài. Thực chất của chuyển đổi ngoại tệ cũng là nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại.

+ Bảo quản chứng từ có giá trị ngoại tệ.

Bảo quản chứng từ có giá trị ngoại tệ như các loại séc, các giấy tờ có giá khác của ngân hàng thương mại nhằm thu phí hoặc mua lại dưới hình thức chiết khấu. Đây cũng là nghiệp vụ sinh lời của ngân hàng thương mại.

– Tỷ giá trong mua, bán kinh doanh ngoại tệ và chuyển đổi ngoại tệ:

Đối với nghiệp vụ mua, bán, chuyển đổi ngoại tệ trong nước hạch toán theo tỷ giá thực mua, thực bán; đối với các các nghiệp vụ khác hạch toán theo tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.

Hàng ngày các ngân hàng niêm yết tỷ giá mua, bán ngoại tệ gồm tỷ giá trao ngay và tỷ giá có kỳ hạn trên cơ sở tham chiếu tỷ giá ở thị trường liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố hàng ngày. Tỷ giá mua, bán ngoại tệ phải đảm bảo cho ngân hàng thương mại kinh doanh có lãi nhưng không được vượt quá biên độ điều hoà cho phép của ngân hàng Nhà nước so với tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố (hiện nay ở Việt Nam đang trong quá trình tiến tới tự do hoá về tỷ giá do vậy vẫn phải căn cứ vào tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước công bố để định tỷ giá mua, bán ngoại tệ).

– Các khoản thu nhập, chi phí của ngân hàng từ hoạt động đầu tư vốn, dịch vụ thanh toán bằng ngoại tệ được thực hiện bằng tỷ giá thực mua, thực bán của ngân hàng tại thời điểm phát sinh thu nhập, chi phí thông qua nghiệp vụ mua, bán ngoại tệ để chuyển thành đồng Việt Nam, trên cơ sở đó để xác định nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước và các quan hệ khác. Như vậy, đối với khoản thu nhập bằng ngoại tệ, ngân hàng mua của khách hàng khoản ngoại tệ mà lẽ ra khách hàng phải mang ra thị trường ngoại tệ bán đi để lấy VND trả lãi, phí cho ngân hàng. Đối với khoản chi phí bằng ngoại tệ thì lẽ ra ngân hàng phải đưa ra thị trường ngoại tệ bán đi lấy VND để trả cho khách hàng nhưng ngân hàng thương mại có chức năng kinh doanh ngoại tệ nên thực hiện luôn nghiệp vụ này.

1.2. Nguyên tắc hạch toán kinh doanh ngoại tệ

1.2.1. Loại tiền ghi sổ

Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ liên quan đến nhiều loại tiền của các quốc gia. Việc sử dụng loại tiền nào chủ yếu phụ thuộc vào nhu cầu mua, bán, chuyển đổi ngoại tệ và thanh toán quốc tế của khách hàng.

Yêu cầu đối với kế toán kinh doanh ngoại tệ là phải phản ánh chính xác từng loại tiền trên chứng từ kế toán cũng như sổ kế toán phân tích và tổng hợp.

Ví dụ:

Khách hàng bán cho ngân hàng USD để lấy VND thì trên chứng từ kế toán và sổ hạch toán phân tích, hạch toán tổng hợp phải phản ánh được rõ ràng USD và VND.

Hoặc khách hàng đổi EURO lấy USD thì trên chứng từ cũng như sổ sách phải phản ánh rõ ràng hai loại đồng tiền trên.

1.2.2. Hạch toán phân tích và hạch toán tổng hợp

Hạch toán phân tích và hạch toán tổng hợp trong kế toán kinh doanh ngoại tệ phụ thuộc vào phương pháp hạch toán của loại nghiệp vụ này.

Có hai phương pháp hạch toán kinh doanh ngoại tệ, theo đó có hai cách tổ chức hạch toán phân tích và hạch toán tổng hợp.

a. Phương pháp hạch toán quy đổi ngoại tệ ra Việt Nam đồng

Theo phương pháp này khi mua, bán ngoại tệ được quy đổi ngay ra Việt Nam đồng theo tỷ giá mua, bán thực tế tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ. Trên chứng từ kế toán vừa phản ánh ngoại tệ (nguyên tệ) mua vào hoặc bán ra, vừa phản ánh tiền Việt Nam đã quy đổi.

Từ phương pháp hạch toán quy đổi ra Việt Nam đồng, hạch toán phân tích và hạch toán tổng hợp được tổ chức như sau:

– Hạch toán phân tích: Vừa ghi sổ bằng nguyên tệ, vừa ghi sổ bằng Việt Nam đồng theo từng nghiệp vụ mua, bán ngoại tệ (mỗi nghiệp vụ ghi một dòng sổ hạch toán phân tích).

Sổ hạch toán phân tích ngoài các cột chung, cột doanh số phát sinh và số dư chia thành hai cột nhỏ là nguyên tệ và đồng Việt Nam.

– Hạch toán tổng hợp: Ghi bằng đồng Việt Nam.

Phương pháp hạch toán vừa bằng nguyên tệ vừa bằng VND rất phức tạp dễ gây ra sai sót vì cùng một lúc vừa phản ánh bằng nguyên tệ, vừa phản ánh bằng VND, Chứng từ và hạch toán phân tích phản ánh theo nguyên tệ và VND nhưng hạch toán tổng hợp thì chỉ phản ánh theo VND. Mặt khác dễ gây ra chênh lệch khi tỷ giá biến động.

Từ những nhược điểm này nên từ 01/ 4/ 1989 đến nay hầu hết các ngân hàng thương mại đã chuyển sang hạch toán theo nguyên tệ.

b. Phương pháp hạch toán theo nguyên tệ

Theo phương pháp này, quá trình mua, bán được hạch toán theo nguyên tệ, không quy đổi về VND. Trên chứng từ kế toán, chỉ phản ánh loại nguyên tệ mua vào, bán ra:

– Hạch toán phân tích: Theo nguyên tệ
– Hạch toán tổng hợp: Theo nguyên tệ

Phương pháp hạch toán theo nguyên tệ đã khắc phục được những nhược điểm của phương pháp hạch toán quy đổi ra VND nên hiện nay nó là phương pháp được áp dụng phổ biến trong kế toán kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.
Khi áp dụng phương pháp hạch toán theo nguyên tệ phải lưu ý một số nội dung sau:

– Hạch toán nguyên tệ phải bảo đảm cân đối từng loại ngoại tệ trên chứng từ kế toán và từng bút toán phát sinh, trên cơ sở đó đảm bảo cân đối từng loại ngoại tệ trong từng bút toán và cân đối ngoại tệ trong toàn bảng.

– Hàng ngày hạch toán chi tiết và hạch toán tổng hợp bằng nguyên tệ đến cuối tháng quy đổi số dư, doanh số thành VND theo tỷ giá mua, bán thực tế liên ngân hàng của ngày cuối tháng để tổng hợp và phản ánh đầy đủ hoạt động trên bảng cân đối tài khoản hàng tháng bằng VND.

– Xuất phát từ đặc điểm của kế toán kinh doanh ngoại tệ là vừa hạch toán ngoại tệ vừa hạch toán theo đồng Việt Nam nên khi lập cân đối tài khoản phải chia thành hai phần là cân đối ngoại tệ và cân đối Việt Nam đồng (các loại ngoại tệ quy ra USD, từ USD quy ra VND theo tỷ giá mua ngày cuối tháng – ngày lập bảng cân đối).

Phần cân đối ngoại tệ đã đảm bảo tổng tài sản có ngoại tệ cân bằng với tổng tài sản nợ ngoại tệ nên không phải sử lý phần chênh lệch do quy đổi tỷ giá.

Phần cân đối VND, do số dư đầu tháng là số dư của cuối tháng trước chuyển sang, số dư này đã được quy đổi ra đồng VN theo tỷ giá mua cuối tháng trước. Về nguyên tắc lập cân đối thì số dư cuối tháng trước phải bằng số dư đầu của tháng lập cân đối nhưng do việc quy đổi ra VND áp dụng tỷ giá ngày cuối tháng của tháng lập cân đối nên có sự chênh lệch. Để đảm bảo cân đối toàn bảng, số chênh lệch này được đưa vào doanh số của bảng cân đối (thực chất số chênh lệch này không có ý nghĩa về mặt kinh tế).

2. Tài khoản và chứng từ dùng trong kế toán kinh doanh ngoại tệ

2.1. Tài khoản sử dụng

2.1.1. Tài khoản nội bảng

a. Nhóm tài khoản tiền mặt và chứng từ có giá trị ngoại tệ

– TK “Ngoại tệ tại đơn vị” (SH 1031)

Tài khoản này dùng để hạch toán số ngoại tệ tại quỹ của ngân hàng thương mại thông qua các nghiệp vụ có liên quan đến ngoại tệ như mua, bán ngoại tệ .

Kết cấu của tài khoản 1031:

Bên Nợ ghi: – Giá trị ngoại tệ nhập quỹ
Bên Có ghi: – Giá trị ngoại tệ xuất quỹ
Số dư Nợ: – Phản ánh giá trị ngoại tệ hiện có tại quỹ của ngân hàng thương mại

Hạch toán phân tích: mở một tài khoản chi tiết theo từng loại ngoại tệ.

– TK “Chứng từ có giá trị ngoại tệ tại đơn vị” (SH: 1041)

Tài khoản này dùng để hạch toán các loại chứng từ có giá trị ngoại tệ như séc, hối phiếu của ngân hàng thương mại.
Kết cấu của tài khoản 1041 giống kết cấu của tài khoản 1031.

– Tài khoản “Chứng từ có giá trị gửi đi nhờ thu” (SH:1043)

Tài khoản này được dùng để hạch toán chứng từ có giá trị ngoại tệ gửi đi ngân hàng khác để nhờ tiêu thụ.

Kết cấu của tài khoản 1043:

Bên Nợ ghi: – Giá trị chứng từ có giá trị ngoại tệ gửi đi nhờ tiêu thụ
Bên Có ghi: – Giá trị chứng từ có giá trị đã được tiêu thụ

Số dư Nợ: – Phản ánh giá trị chứng từ có giá trị ngoại tệ đang gửi đi nhờ tiêu thụ

Hạch toán chi tiết: Mở tài khoản chi tiết theo đơn vị nhận chứng từ có giá trị ngoại tệ để tiêu thụ.

– TK “Chứng từ có giá trị ngoại tệ đang vận chuyển” (SH: 1049)

TK này dùng để hạch toán số chứng từ có giá trị ngoại tệ chuyển cho các đơn vị khác đang trên đường đi. Trường hợp đơn vị nhận chứng từ có giá trị ngoại tệ đến nhận trực tiếp tại đơn vị mình thì không hạch toán vào tài khoản này.

Kết cấu của TK 1049:

Bên Nợ ghi: – Giá trị chứng từ có giá trị ngoại tệ chuyển đến đơn vị nhận .
Bên Có ghi: – Giá trị chứng từ có giá trị ngoại tệ đơn vị nhận thanh toán (căn cứ vào biên bản giao nhận hoặc giấy báo của đơn vị nhận).
Số dư Nợ: – Phản ánh giá trị chứng từ có giá trị ngoại tệ ở đơn vị đang vận chuyển trên đường.

Hạch toán chi tiết: Mở một tài khoản chi tiết theo từng đơn vị nhận chứng từ có giá trị ngoại tệ vận chuyển đến.

b. Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn bằng ngoại tệ ở nước ngoài- NOSTRO (SH:1331)

Tài khoản này dùng để phản ánh số ngoại tệ của ngân hàng thương mại gửi tại các ngân hàng ở nước ngoài.

Kết cấu của tài khoản 1331:
Bên Nợ ghi: – Giá trị ngoại tệ gửi vào các ngân hàng ở nước ngoài
Bên Có ghi: – Giá trị ngoại tệ lấy ra.
Số dư Nợ: – Phản ánh giá trị ngoại tệ của ngân hàng thương mại đang gửi tại các ngân hàng nước ngoài.

Hạch toán chi tiết: Mở TK chi tiết theo từng ngân hàng ở nước ngoài nhận tiền gửi.

c. Nhóm tài khoản phản ánh mua bán ngoại tệ kinh doanh

-Tài khoản “Mua bán ngoại tệ kinh doanh” (SH 4711)

Dùng để hạch toán số ngoại tệ mua vào bán ra trong kỳ kế toán
Bên Có ghi: – Giá trị ngoại tệ mua vào
Bên Nợ ghi: – Giá trị ngoại tệ bán ra
Số dư Có: – Phản ánh số ngoại tệ mua vào chưa bán ra trong kỳ kế toán

Hạch toán chi tiết: mở tài khoản chi tiết theo loại ngoại tệ .

– Tài khoản “Thanh toán mua bán ngoại tệ kinh doanh” (SH 4712)

Tài khoản này dùng để phản ánh số tiền Việt Nam mà ngân hàng bỏ ra để mua ngoại tệ hoặc thu về do bán ngoại tệ trong kỳ kế toán.

Bên Nợ ghi:

– Số tiền Việt Nam chi ra để mua ngoại tệ (tính theo tỷ giá thực tế mua vào)
– Kết chuyển số chênh lệch tăng giá trị ngoại tệ kinh doanh khi đánh giá lại số dư ngoại tệ trên tài khoản 4711 ngày cuối tháng (đối ứng với bên Có TK 631 “ Chênh lệch tỷ giá hối đoái”).

Bên Có ghi: – Số tiền Việt Nam thu về do bán ngoại tệ (tính theo tỷ giá thực tế bán ra)
– Kết chuyển số chênh lệch giảm giá trị ngoại tệ kinh doanh khi đánh giá lại số dư ngoại tệ trên tài khoản 4711 ngày cuối tháng (đối ứng với bên nợ của tài khoản 631).

Số dư Nợ: – Phản ánh số tiền Việt Nam ngân hàng bỏ ra để mua ngoại tệ kinh doanh (đối ứng số dư TK 4711).

Hạch toán chi tiết: Mở một tài khoản chi tiết.

d- Tài khoản mua, bán ngoại tệ từ các nguồn khác

-Tài khoản “Ngoại tệ bán ra từ các nguồn khác” (SH 4721)

Tài khoản này dùng để hạch toán số ngoại tệ bán ra cho khách hàng từ các nguồn ngoại tệ khác (huy động, vay…), không thuộc nguồn ngoại tệ mua vào để kinh doanh. Sau khi bán ngoại tệ ra phải tìm cách mua vào để bù đắp số ngoại tệ đã bán từ các nguồn khác.

Trong trường hợp tài khoản 4721 có số dư Nợ mà tài khoản 4711 có số dư Có thì phải chuyển số dư Có từ tài khoản 4711 sang tài khoản 4721 để bù đắp cho đến khi tài khoản 4721 hết số dư.

Kết cấu của tài khoản 4721:
Bên Nợ ghi: – Giá trị ngoại tệ từ các nguồn khác đã bán ra
Bên Có ghi: – Giá trị ngoại tệ mua vào bù đắp số ngoại tệ đã bán ra
– Chuyển số dư Có của tài khoản 4711 “mua, bán ngoại tệ kinh doanh” sang
Số dư Nợ: – Phản ánh giá trị ngoại tệ từ các nguồn khác bán ra mà chưa mua vào được để bù.

Hạch toán chi tiết: mở một tài khoản chi tiết.

– Tài khoản “Thanh toán mua, bán ngoại tệ từ các nguồn khác” (SH 4722)

Tài khoản này dùng để hạch toán số tiền VND thu vào do bán ngoại tệ từ các nguồn khác (tương ứng tài khoản 4721, không thuộc nguồn ngoại tệ mua vào để kinh doanh ) và số tiền VND chi ra mua ngoại tệ để bù vào số ngoại tệ đã bán ra.

Kết cấu của tài khoản 4722:
Bên Có ghi: – Số tiền Việt Nam thu về do bán ngoại tệ từ các nguồn khác.
Bên Nợ ghi: – Tiền Việt Nam chi ra mua ngoại tệ bù vào số ngoại tệ bán ra từ các nguồn khác.
Số dư Có: – Phản ánh số tiền Việt Nam thu vào do bán ngoại tệ từ các nguồn khác nhiều hơn số tiền chi ra mua ngoại tệ để bù đắp.

Hạch toán chi tiết: Mở 01 tài khoản chi tiết.

Cuối kỳ kế toán, xác định số chênh lệch giữa giá trị ngoại tệ đã bán theo tỷ giá thực tế bán ra với giá trị ngoại tệ đã bán theo tỷ giá thực tế bình quân trong tháng, sau đó chuyển khoản chênh lệch này vào tài khoản Thu nhập hay Chi phí về kinh doanh ngoại tệ cho phù hợp.

e- Nhóm tài khoản phản ánh chuyển đổi ngoại tệ

– Tài khoản “Chuyển đổi ngoại tệ thanh toán trong nước” (SH479).

Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chuyển đổi từ ngoại tệ này sang ngoại tệ khác do khách hàng trong nước yêu cầu:

Kết cấu của tài khoản 479:

Bên Có ghi: – Giá trị ngoại tệ khách hàng trích tài khoản hoặc nộp tiền mặt để chuyển đổi ra ngoại tệ khác.
Bên Nợ ghi: – Giá trị ngoại tệ đã chuyển đổi cho khách hàng.
Số dư Có: – Phản ánh giá trị ngoại tệ của khách hàng chưa chuyển đổi được.
Hạch toán chi tiết: Nợ TK chi tiết theo từng khách hàng chuyển đổi ngoại tệ.

– Tài khoản “Chuyển đổi ngoại tệ thanh toán với các ngân hàng nước ngoài” (SH 561)

Tài khoản này mở tại các ngân hàng có quan hệ thanh toán với ngân hàng nước ngoài, dùng để phản ánh số ngoại tệ ngân hàng thương mại yêu cầu ngân hàng nước ngoài trích tài khoản tiền gửi của mình (TK NOSTRO) chuyển đổi ra ngoại tệ khác để thanh toán, kinh doanh.

Kết cấu của tài khoản 561:

Bên Nợ ghi: – Giá trị ngoại tệ ngân hàng thương mại yêu cầu ngân hàng nước ngoài trích tài khoản tiền gửi (NOSTRO) chuyển đổi ra ngoại tệ khác.
Bên Có ghi: – Giá trị ngoại tệ đã được ngân hàng nước ngoài trích tài khoản tiền gửi của mình (NOSTRO) chuyển đổi ra ngoại tệ khác.
Số dư Nợ: – Phản ánh giá trị ngoại tệ ngân hàng thương mại đang nhờ ngân hàng nước ngoài chuyển đổi.

Hạch toán chi tiết: Mở 01 tài khoản chi tiết theo từng ngân hàng ở nước ngoài nhận chuyển đổi ngoại tệ.

g- Tài khoản “Chênh lệch tỷ giá hối đoái đánh giá lại váo thới điểm lập báo cáo (SH 6311).

Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chênh lệch do thay đổi tỷ giá hối đoái qua việc đánh giá lại các tài khoản ngoại tệ, hạch toán bằng đồng Việt Nam.

Kết cấu của tài khoản 6311:

Bên Có ghi: – Số chênh lệch tăng do đánh giá lại số dư các tài khoản ngoại tệ theo tỷ giá mua thực tế của ngày cuối tháng.
– Kết chuyển số chênh lệch tỷ giá cuối năm (lỗ tỷ giá) vào TK chi phí.
Bên Nợ ghi: – Số chênh lệch giảm do đánh giá lại số dư các tài khoản ngoại tệ theo tỷ giá mua thực tế của ngày cuối tháng.
– Kết chuyển số chênh lệch tỷ giá cuối năm (lãi tỷ giá) vào TK thu nhập.
Số dư Có:
(hoặc số dư Nợ) – Phản ánh số chênh lệch Có hoặc số chênh lệch Nợ tỷ giá ngoại tệ phát sinh trong năm chưa xử lý.

Hạch toán chi tiết: mở một tài khoản chi tiết.

Ngoài các tài khoản nội bảng như trên, trong kế toán kinh doanh ngoại tệ còn liên quan đến các tài khoản “Thuế giá trị gia tăng phải nộp”, tài khoản “thu nhập”, tài khoản “chi phí”. Những tài khoản này sẽ được trình bày ở chương VIII “kế toán thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh”.

2.1.2. Tài khoản ngoại bảng

Các tài khoản ngoại bảng cấp 3 phản ánh nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ được bố trí trong tài khoản cấp 2 số 923- các cam kết giao dịch hối đoái.

– Tài khoản “Cam kết Mua ngoại tệ trao ngay”- Spot (SH 9231)
– Tài khoản “Cam kết Bán ngoại tệ trao ngay”- Spot (SH 9232)

Hai tài khoản này dùng để hạch toán những khoản thanh toán mà ngân hàng thương mại sẽ thực hiện theo cam kết hợp đồng Mua (TK 9231) hoặc bán (TK 9232) ngoại tệ thanh toán trao ngay để Mua hoặc Bán ngoại tệ theo tỷ giá thoả thuận đã ghi trong hợp đồng; việc thanh toán này được người bán thực hiện trong vòng 02 ngày kể từ ngày giao dịch.

– Tài khoản “Cam kết Mua ngoại tệ có kỳ hạn”- Forward (TK 9233).
– Tài khoản “Cam kết Bán ngoại tệ có kỳ hạn”- Forward (TK 9234).

Hai tài khoản này dùng để hạch toán những khoản thanh toán mà ngân hàng thương mại sẽ thực hiện theo cam kết hợp đồng Mua (TK 9233) hoặc Bán (TK 9234) ngoại tệ thanh toán có kỳ hạn để Mua hoặc Bán theo tỷ giá thoả thuận ghi trong hợp đồng, việc thanh toán này được người bán thực hiện tại các thời điểm trong tương lai (theo quy định ký hạn tói thiểu là 7 ngày, thời hạn tối đa là 180 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng giao dịch).

Các tài khoản ngoại bảng có kết cấu chung:

Bên Nhập ghi: – Số tiền cam kết thanh toán
Bên Xuất ghi: – Số tiền cam kết đã thanh toán (hoặc huỷ cam kết hợp đồng giao dịch)
Số còn lại: – Phản ánh số tiền cam kết còn phải thanh toán với khách hàng.

Hạch toán chi tiết: Mở tài khoản chi tiết theo từng hợp đồng và khách hàng cùng cam kết.

2.2. Chứng từ kế toán

Sử dụng các loại chứng từ thông dụng như phiếu thu, phiếu chi, phiếu chuyển khoản, uỷ nhiệm chi… Ngoài ra có các hợp đồng mua, bán ngoại tệ được dùng làm chứng từ gốc.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • kế toán nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
  • ,