Về các loại cơ cấu giá trị sản xuất trong nhóm ngành nông – lâm – thủy sản

Một là, về cơ cấu giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản phân theo ngành kinh tế

Cơ cấu giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản phân theo ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới cần chuyển dịch theo hướng tiếp tục tăng tỷ trọng ngành thủy sản, giảm tương ứng tỷ trọng ngành nông nghiệp và ngành lâm nghiệp trong giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập của nông dân. Xây dựng ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của vùng có quy mô lớn, hiện đại và có sức cạnh tranh cao.

Trong quá trình di chuyển các yếu tố sản xuất như đất đai, sức lao động và vốn, đặc biệt là đất đai từ ngành nông nghiệp và ngành lâm nghiệp sang ngành thủy sản cũng phải giữ lại một DT trồng lúa nhất định (khoảng 1,8 triệu ha) nhằm góp phần đảm bảo an ninh lương thực của cả nước, cũng như phải đảm bảo DT rừng và độ che phủ rừng của vùng.

Căn cứ vào: (i) cơ cấu giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản phân theo ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017; (ii) Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2020; (iii) Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu; (iv) bối cảnh mới và quan điểm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới thì tỷ trọng ngành thủy sản trong giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản tăng từ 36,5% năm 2017 lên 38,5% năm 2020 và đạt 41,2% năm 2025; tỷ trọng ngành nông nghiệp trong giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản giảm từ 62,5% năm 2017 xuống còn 60,6% năm 2020 và còn 58% năm 2025; tỷ trọng ngành lâm nghiệp trong giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản giảm từ 1% năm 2017 xuống còn 0,9% năm 2020 và còn 0,8% năm 2025.

Hai là, về cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành kinh tế

Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới cần chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành chăn nuôi, giảm nhanh tỷ trọng ngành trồng trọt trong giá trị sản xuất nông nghiệp; gắn với ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái. Chuyển dần từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún lên nông nghiệp trang trại, nông nghiệp tập trung quy mô lớn. Gắn sản xuất với chế biến, liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng thương hiệu hàng nông sản nhằm nâng cao giá trị hàng nông sản của vùng.

Căn cứ vào: (i) cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017; (ii) Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2020; (iii) bối cảnh mới và quan điểm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới thì tỷ trọng ngành chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp tăng nhanh, từ 15,9% năm 2017 lên 18% năm 2020 và đạt 21,5% năm 2025; tỷ trọng ngành dịch vụ nông nghiệp cũng tăng từ 9,4% năm 2017 lên 9,7% năm 2020 và đạt 10,2% năm 2025. Ngược lại, tỷ trọng ngành trồng trọt giảm nhanh, từ 74,7% năm 2017 xuống còn 72,3% năm 2020 và còn 68,3% năm

Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới cần chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng nhóm cây rau đậu và nhóm cây ăn quả, giảm nhanh tỷ trọng nhóm cây lương thực và nhóm cây công nghiệp trong giá trị sản xuất ngành trồng trọt; gắn với việc áp dụng các biện pháp thâm canh bền vững. Phát triển ngành trồng trọt theo hướng sản xuất quy mô lớn, tập trung. Khuyến khích doanh nghiệp liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ nông sản với nông dân; phát triển các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.

Căn cứ vào: (i) cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017; (ii) Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu; (iii) bối cảnh mới và quan điểm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới thì tỷ trọng nhóm cây rau đậu trong giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng nhanh, từ 14,5% năm 2017 lên 16,3% năm 2020 và đạt 19,3% năm 2025; tỷ trọng nhóm cây ăn quả cũng tăng nhanh từ 19,5% năm 2017 lên 20,6% năm 2020 và đạt 22,6% năm 2025. Ngược lại, tỷ trọng nhóm cây lương thực giảm nhanh, từ 60,6% năm 2017 xuống còn 58,5% năm 2020 và còn 54,6% năm 2025; tỷ trọng nhóm cây công nghiệp cũng giảm từ 4,8% năm 2017 xuống còn 4,2% năm 2020 và còn 3,2% năm 2025.

Định hướng phát triển ngành chăn nuôi:

Các loại vật nuôi chính cần được đẩy mạnh phát triển ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới là bò thịt, lợn và gia cầm. Ngoài ra, cần khuyến khích phát triển các loại vật nuôi khác như trâu, dê và cừu ở những nơi có điều kiện thuận lợi.

Chuyển nhanh từ chăn nuôi phân tán, quy mô nhỏ trong khu dân cư sang chăn nuôi tập trung, trang trại, gia trại nằm ngoài khu dân cư. Cần phát triển các giống gia súc, gia cầm có năng suất và chất lượng cao phù hợp với điều kiện của vùng. Xây dựng thêm nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển chăn nuôi trong vùng, giảm chi phí vận chuyển thức ăn, hạ giá thành chăn nuôi. Cần tăng cường công tác thú y nhằm đảm bảo tốt công tác phòng chống dịch bệnh. Đầu tư xây dựng các cơ sở nghiên cứu và chuyển giao khoa học – công nghệ về chăn nuôi tại các địa phương trong vùng; cũng như khuyến khích, hỗ trợ người nuôi ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất. Cần đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm chăn nuôi và vệ sinh môi trường.

Cần khuyến khích phát triển hệ thống cơ sở giết mổ tập trung, nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có và xây dựng thêm nhà máy chế biến mới có công nghệ hiện đại và sản phẩm đa dạng. Khuyến khích chăn nuôi khép kín từ sản xuất, đến giết mổ và chế biến hoặc liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị để nâng cao năng suất, giảm chi phí và tăng hiệu quả.

Ba là, về cơ cấu giá trị sản xuất lâm nghiệp phân theo ngành hoạt động

DT rừng ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 có xu hướng giảm xuống, từ 337.664 ha năm 2000 xuống còn 253.530 ha năm 2017, quân giảm 4.949 ha/năm. Hiện tượng giảm này là do DT rừng sản xuất giảm mạnh, mặc dù DT rừng phòng hộ và DT rừng đặc dụng có xu hướng tăng lên. DT rừng ở vùng ĐBSCL trong thời gian qua giảm xuống làm cho độ che phủ rừng của vùng cũng giảm theo, từ 8,5% năm 2000 xuống chỉ còn khoảng 6,2% năm 2017. Để nâng cao độ che phủ rừng của vùng, cũng như thực hiện các mục tiêu của phát triển rừng về kinh tế, xã hội, môi trường, an ninh và quốc phòng thì định hướng phát triển 3 loại rừng ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới như sau:

Định hướng phát triển rừng sản xuất:

DT rừng sản xuất ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 có xu hướng giảm mạnh do hiệu quả kinh tế thấp, từ 218.632 ha năm 2000 xuống còn 99.257 ha năm 2017, bình quân giảm 7.022 ha/năm. Rừng sản xuất ở vùng ĐBSCL hiện nay gồm có rừng tràm trên vùng đất phèn; rừng đước, bần, vẹt ở cửa sông và ven biển; rừng bạch đàn và keo lai làm nguyên liệu giấy ở Long An và Kiên Giang.

Để gia tăng DT rừng sản xuất ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới thì phải nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề rừng bằng cách đẩy nhanh thực hiện các mô hình nông – lâm kết hợp, nông – lâm – ngư kết hợp nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời  sống người làm nghề rừng và tạo nguồn cung cấp lâm sản tại chỗ. Xác định cây trồng phù hợp với từng loại đất. Cần tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ trong sản xuất giống và du nhập các giống cây lâm nghiệp có khả năng thích nghi tốt với các điều kiện của vùng, tăng trưởng nhanh, sinh khối lớn và chất lượng gỗ đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Tổ chức chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật cho người làm nghề rừng. Thực hiện thâm canh rừng (chọn giống tốt, bón phân, lên liếp…) để nâng cao năng suất cây trồng. Thiết lập liên kết giữa người trồng rừng với các cơ sở chế biến, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng lâm sản.

Theo Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu thì DT rừng sản xuất ở vùng ĐBSCL năm 2020 là 158.700 ha. Việc mở rộng DT rừng sản xuất nhằm mục tiêu cung cấp gỗ nhỏ (cừ tràm, cừ đước) cho nhu cầu xây dựng tại địa phương, nguyên liệu (bạch đàn, keo lai) cho chế biến bột giấy, ván dăm, gỗ gia dụng và cung cấp củi cho người dân vùng nông thôn.

Định hướng phát triển rừng phòng hộ:

DT rừng phòng hộ ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 có xu hướng tăng lên, từ 76.592 năm 2000 lên 81.778 ha năm 2017, bình quân tăng 305 ha/năm. Rừng phòng hộ ở vùng ĐBSCL bao gồm rừng phòng hộ ven biển từ Tiền Giang đến Kiên Giang; rừng phòng hộ ven biên giới với Campuchia ở các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp và Long An; rừng phòng hộ nội địa và rừng phòng hộ vùng hải đảo. Trong thời gian tới, cần phải:

Bảo vệ và phát triển các đai rừng phòng hộ ven biển, tích cực trồng mới rừng ở những khu vực phòng hộ rất xung yếu đang bị xói lở, xúc tiến tái sinh rừng trên những vùng bãi bồi.

Đẩy nhanh việc thiết lập hệ thống rừng phòng hộ ven biên giới với Campuchia và phòng hộ các công trình kết cấu hạ tầng, cụm dân cư vùng lũ. Đặc biệt đối với các khu vực xung yếu và rất xung yếu ven biên giới, các tuyến kênh và đê chính nhất thiết phải bố trí các đai rừng phòng hộ đủ rộng để hạn chế tác hại của lũ.

Trên cơ sở rà soát lại DT và ranh giới các khu rừng phòng hộ sẽ chuyển đổi một số DT rừng phòng hộ ít xung yếu thuộc tỉnh Kiên Giang thành rừng sản xuất và một phần rừng phòng hộ ít xung yếu của huyện đảo Phú Quốc phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương.

Như vậy, cần phải thiết lập hệ thống rừng phòng hộ với quy mô đáp ứng được yêu cầu phòng hộ ven biển, ven biên giới, các công trình kết cấu hạ tầng và cụm dân cư vùng lũ. Theo Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu thì DT rừng phòng hộ ở vùng ĐBSCL năm 2020 là 95.300 ha. Việc bảo vệ và phát triển hệ thống rừng phòng hộ ở vùng ĐBSCL nhằm phát huy chức năng chắn sóng, chống xói lở ở vùng ven biển, bảo vệ quốc phòng ở vùng biên giới và ven biển, bảo vệ các công trình kết cấu hạ tầng và cụm dân cư vùng lũ, góp phần làm giảm nhẹ các thiệt hại do biến đổi khí hậu và nước biển dâng cùng với hiện tượng ngập lũ xảy ra hàng năm ở vùng ĐBSCL.

Định hướng phát triển rừng đặc dụng:

DT rừng đặc dụng ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 đã tăng lên, từ

42.440 ha năm 2000 lên 72.495 ha năm 2017, bình quân tăng 1.768 ha/năm. Rừng đặc dụng ở vùng ĐBSCL hiện nay gồm có khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú ở Bến Tre, vườn quốc gia U Minh Thượng và vườn quốc gia Phú Quốc ở Kiên Giang, vườn quốc gia Mũi Cà Mau ở Cà Mau…

Trong thời gian tới, cần rà soát lại DT và ranh giới của từng khu rừng đặc dụng hiện có; trên cơ sở đó, điều chỉnh tăng, giảm DT của từng khu rừng tùy theo yêu cầu phát triển của từng khu rừng và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương. Cần rà soát lại và thiết lập thêm một số khu rừng đặc dụng mới.

Theo Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu thì DT rừng đặc dụng ở vùng ĐBSCL năm 2020 là 76.500 ha. Việc bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng nhằm mục tiêu bảo tồn các mẫu chuẩn hệ sinh thái ngập nước quốc gia, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen quý hiếm, bảo tồn giá trị văn hóa lịch sử; đồng thời phục vụ nghiên cứu khoa học, tham quan, nghĩ dưỡng và phát triển loại hình du lịch sinh thái.

Ngoài trồng rừng tập trung với 3 loại rừng trên, cần phát triển mạnh trồng cây phân tán dọc theo các tuyến đường, trên bờ kênh mương, bờ bao, đê biển, trong khuôn viên công sở, trường học, bệnh viện, quanh nhà…

Tóm lại, định hướng phát triển 3 loại rừng như trên nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao độ che phủ rừng của vùng, cũng như thực hiện các mục tiêu của phát triển rừng về kinh tế, xã hội, môi trường, an ninh và quốc phòng. Đồng thời, còn thúc  đẩy cơ cấu giá trị sản xuất lâm nghiệp phân theo ngành hoạt động ở vùng trong thời gian tới chuyển dịch theo hướng tiến bộ, cụ thể là: tăng tỷ trọng ngành trồng và chăm sóc rừng, giảm tỷ trọng ngành khai thác gỗ và lâm sản khác trong giá trị sản xuất lâm nghiệp.

Bốn là, về cơ cấu giá trị sản xuất thủy sản phân theo ngành hoạt động

Vùng ĐBSCL có tiềm năng và lợi thế trong việc phát triển ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản lớn nhất so với các vùng kinh tế – xã hội khác của cả nước. Vì vậy, cần phải xây dựng ngành thủy sản trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, sản xuất hàng hóa lớn, có sức cạnh tranh cao, có kim ngạch xuất khẩu lớn và góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế – xã hội của vùng.

Về cơ cấu giá trị sản xuất thủy sản phân theo ngành hoạt động ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới cần chuyển dịch theo hướng tiếp tục tăng tỷ trọng ngành nuôi trồng thủy sản, giảm tỷ trọng ngành khai thác thủy sản trong giá trị sản xuất thủy sản của vùng.

Về nuôi trồng thủy sản: cần tiếp tục phát triển mạnh mẽ nuôi trồng thủy sản với sự mở rộng DT nuôi trồng, điều chỉnh phương thức nuôi và tập trung vào các đối tượng nuôi chủ lực phù hợp với điều kiện sinh thái, xu hướng của biến đổi khí hậu cũng như của thị trường tiêu thụ trong nước và ngoài nước, cụ thể như sau:

Về DT nuôi trồng thủy sản: DT có khả năng nuôi trồng thủy sản ở vùng ĐBSCL là khoảng 1.366.430 ha.

trên thực tế thì DT nuôi trồng thủy sản ở vùng ĐBSCL năm 2017 là 798.400 ha, chỉ chiếm có 58,4% DT có khả năng nuôi trồng thủy sản ở vùng. Vì vậy, trong thời gian tới cần phải mở rộng DT nuôi trồng thủy sản ở vùng cả nước ngọt và nước mặn, nước lợ.

Về phương thức nuôi: DT nuôi trồng thủy sản ở vùng ĐBSCL năm 2017 là

798.400 ha. Trong đó, DT nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến là 635.438 ha, chiếm tới 79,6%; DT nuôi bán thâm canh là 28.706 ha, chiếm 3,6%; DT nuôi thâm canh là 134.256 ha, chỉ chiếm có 16,8%. Vì vậy, trong thời gian tới cần chuyển nhanh các mô hình nuôi quảng canh sang các mô hình nuôi quảng canh cải tiến. Chuyển một phần DT nuôi quảng canh sang nuôi bán thâm canh và thâm canh quy mô công nghiệp ở những nơi có điều kiện thuận lợi, áp dụng công nghệ nuôi và xử lý môi trường tiên tiến, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao và an toàn sinh học (GAP, BMP…).

Về đối tượng nuôi: cần tập trung đầu tư phát triển các đối tượng nuôi chủ lực là cá tra, tôm càng xanh… ở tiểu vùng nuôi trồng thủy sản nước ngọt gồm các tỉnh, thành là Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ và Hậu Giang; nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng, nhuyễn thể… ở các tỉnh ven biển từ Long An đến Kiên Giang.

Về khai thác thủy sản và bảo vệ nguồn lợi thủy sản:

DT biển vùng ĐBSCL là 360.000 km2, chiếm khoảng 30% DT biển của cả nước. Số tàu khai thác thủy sản biển ở vùng ĐBSCL năm 2017 là 23.846 chiếc. Nếu phân theo nhóm công suất thì số tàu khai thác thủy sản biển có công suất dưới 90 CV là 14.152 chiếc, chiếm tới 59,3% tổng số tàu, trong khi đó số tàu có công suất từ 90 CV trở lên là 9.694 chiếc, chỉ chiếm có 40,7% tổng số tàu. Còn nếu phân theo phạm vi khai thác thì số tàu khai thác gần bờ là 13.402 chiếc, chiếm tới 56,2% tổng số tàu, trong khi đó số tàu khai thác xa bờ là 10.444 chiếc, chỉ chiếm có 43,8% tổng số tàu. Như vậy, ở vùng ĐBSCL thì số tàu khai thác thủy sản biển có công suất dưới 90 CV và khai thác gần bờ là chủ yếu. Ngoài ra, một bộ phận ngư dân vẫn chưa có ý thức tốt trong việc bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản. Vì vậy, định hướng phát triển ngành khai thác thủy sản ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới như sau:

Khai thác gần bờ: giảm thiểu đến mức có thể cường độ khai thác thủy sản gần bờ bằng cách giảm bớt số lượng tàu và những phương tiện đánh bắt có tính chọn lọc kém, nghiêm cấm triệt để các phương tiện đánh bắt có tính hủy diệt như thuốc nổ, xung điện gây suy giảm nguồn lợi thủy sản. Quy định kiểm soát chặt chẽ việc cấm đánh bắt hoàn toàn hoặc có thời hạn tại một số vùng biển.

Khai thác xa bờ: cần khuyến khích đóng tàu thuyền lớn khai thác xa bờ. Điều chỉnh số lượng tàu khai thác phù hợp với những thông tin cập nhật về nguồn lợi thủy sản tại các vùng biển, sử dụng những phương tiện đánh bắt mang lại hiệu quả kinh tế và không gây tổn hại đến nguồn lợi thủy sản như câu, lưới rê, lưới kéo… Hình thành các tổ hợp đánh cá khơi xa, mạnh, hiện đại. Gắn hoạt động của đội tàu khai thác xa bờ với dịch vụ hậu cần trên biển và trên bờ, nâng cao năng lực quản lý thông tin tàu thuyền trên biển. Tiếp tục hoàn thiện kết cấu hạ tầng nghề cá ở ven bờ và các đảo lớn (cảng, bến cá, chợ cá, khu neo đậu tàu thuyến tránh trú bão…) và xây dựng các tuyến đường giao thông nối liền với nhà máy chế biến.