Về tỷ trọng của các ngành công nghiệp và xây dựng trong GRDP, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp

Thứ nhất, về tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến trong GRDP:

Nhóm ngành công nghiệp – xây dựng bao gồm 4 ngành kinh tế cấp 1 đó là: ngành khai khoáng; ngành công nghiệp chế biến; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước; ngành xây dựng. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến phản ánh trình độ CNH và được dùng để so sánh trình độ CNH giữa các nền kinh tế (Trần Văn Thọ, 1998). Ở góc độ cơ cấu ngành kinh tế, CNH là quá trình biến đổi nền kinh tế mà nhóm ngành nông – lâm – thủy sản và ngành khai khoáng chiếm tỷ trọng lớn sang một nền kinh tế mà ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn. Trong quá trình này, ngành công nghiệp chế biến trở thành đầu tàu của nền kinh tế và có xu hướng gia tăng về tỷ trọng trong sản xuất, trong tổng lao động xã hội và kim ngạch xuất khẩu.

Trong thực tế, tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến trong GRDP ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 có xu hướng tăng lên, từ 13,7% năm 2000 lên 16,6% năm 2010 và đạt 18,8% năm 2017. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra còn rất chậm (bình quân mỗi năm chỉ tăng được có 0,3%) và còn chiếm tỷ trọng rất thấp trong GRDP. Vì vậy, cần phải tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến trong GRDP ở vùng trong thời gian tới.

Thứ hai, về cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới cần chuyển dịch theo định hướng sau:

+ Phát triển mạnh và tăng nhanh tỷ trọng một số ngành công nghiệp trong giá trị sản xuất công nghiệp mà vùng ĐBSCL đang có tiềm năng và lợi thế như ngành: sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ uống; dệt; sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu; sản xuất các sản  phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị). Phát triển mạnh một số ngành công nghiệp này nhằm khai thác tối đa nguồn nguyên liệu nông sản và thủy sản, nguồn nhân lực dồi dào của vùng, cũng như đáp ứng nhu cầu thị trường của vùng, trong nước và ngoài nước.

+ Đồng thời, cần hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao ở giai đoạn đầu như: lắp ráp điện tử; sản xuất, lắp ráp thiết bị điện; sản xuất phụ tùng máy động lực xăng; đóng mới và sửa chữa tàu khai thác thủy sản biển xa bờ; phát triển năng lượng tái tạo (điện gió ven biển, điện mặt trời)… nhằm từng bước hiện đại hóa cơ cấu ngành kinh tế của vùng.

+ Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp cần nâng cao trình độ kỹ thuật – công nghệ của các ngành công nghiệp theo phương châm “vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt khi có nhu cầu cần thiết và có khả năng thực hiện” nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

+ Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới cần gắn với việc phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo hướng cụ thể, thiết thực và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu về mặt bằng cho việc đầu tư phát triển các ngành công nghiệp của vùng.

– Định hướng cụ thể hơn đối với một số ngành công nghiệp có triển vọng ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới như sau:

+ Phát triển ngành sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ uống: xây dựng ngành sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ uống quy mô lớn có trình độ công nghệ cao, gắn với phát triển vùng nguyên liệu. Giảm sản phẩm sơ chế, tăng cường chế biến sâu. Tập trung vào các ngành đang có lợi thế so sánh như chế biến gạo, rau quả, dừa, thịt, thủy sản, thức ăn chăn nuôi và thức ăn nuôi trồng thủy sản.

+ Phát triển ngành dệt, sản xuất trang phục, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan: phát triển các ngành này nhằm khai thác nguồn nhân lực dồi dào hiện có của vùng và đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu. Cần tăng hàm lượng chất xám trong giá trị sản phẩm bằng cách chủ động sáng tạo ra các mẫu mã mới phù hợp với xu hướng của thời trang quốc tế; chú trọng đầu tư vào máy móc, thiết bị và nâng cao trình độ tay nghề của người lao động nhằm tiến tới xuất khẩu trực tiếp, giảm dần việc gia công. Nghiên cứu, mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước.

+ Phát triển ngành sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy: tỷ trọng ngành sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy trong giá trị sản xuất công nghiệp ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 có xu hướng tăng lên, từ 0,4% năm 2000 lên 1,1% năm 2017. Tuy nhiên, quy mô còn rất nhỏ bé và chưa đáp ứng đủ nhu cầu về giấy các loại của ngành in, sao chép bản ghi các loại ở vùng. Vì vậy, cần phải đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của ngành này trong thời gian tới, nhất là tại các tỉnh như Long An, Bến Tre và Hậu Giang.

+ Phát triển ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất: sản phẩm chủ yếu của ngành này là phân bón và thuốc trừ sâu. Về mặt quy mô thì ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất mới chiếm có 3,8% giá trị sản xuất công nghiệp, chưa đáp ứng đủ nhu cầu về phân bón và thuốc trừ sâu của sản xuất nông nghiệp ở vùng; về mặt trình độ của ngành thì còn thấp. Vì vậy, cần phải đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng ngành cùng với phát triển ngành theo hướng hiện đại trong thời gian tới, nhất là tại các tỉnh như Long An, Cà Mau và thành phố Cần Thơ.

+ Phát triển ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu: sản phẩm chủ yếu của ngành này là thuốc viên và thuốc nước. Tỷ trọng ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu trong giá trị sản xuất công nghiệp ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 có xu hướng tăng lên và đạt 1,7% năm 2017. Tuy nhiên, tỷ trọng này là còn rất nhỏ bé và chưa đáp ứng đủ nhu cầu về tân dược của người dân trong vùng. Vì vậy, cần phải phát huy tiềm năng và lợi thế của vùng để phát triển mạnh ngành này trong thời gian tới, nhất là tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Đồng Tháp.

+ Phát triển ngành sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic: sản phẩm của ngành này gồm có bao bì bằng nhựa, ống kim tiêm, vỏ xe đạp, vỏ xe máy và đồ nhựa gia dụng. Tỷ trọng ngành sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic trong giá trị sản xuất công nghiệp ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 có xu hướng tăng lên, từ 0,4% năm 2000 lên 1,8% năm 2010 và đạt 2,6% năm 2017. Cần tiếp tục gia tăng tỷ trọng của ngành này trong thời gian tới, nhất là tại các tỉnh như Long An và Tiền Giang.

+ Phát triển ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị): sản phẩm của ngành này gồm có nông cụ cầm tay, đồ tôn sắt tây và cửa bằng  sắt thép. Tỷ trọng ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn trong giá trị sản xuất công nghiệp ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 có xu hướng tăng lên, từ 2,3% năm 2000 lên 2,4% năm 2010 và đạt 2,5% năm 2017. Cần tiếp tục gia tăng tỷ trọng của ngành này trong thời gian tới nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư, nhất là tại các địa phương có tiềm năng và lợi thế như tỉnh Long An và thành phố Cần Thơ.

+ Phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, điện, cơ khí: tỷ trọng các ngành này trong giá trị sản xuất công nghiệp ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017 có xu hướng tăng lên, từ 2,3% năm 2000 lên 2,6% năm 2010 và đạt 3% năm 2017. Tuy nhiên, quy mô như vậy là còn quá nhỏ bé; sản phẩm thì còn rất đơn giản như dây điện và cáp điện, thùng suốt lúa, đóng tàu gỗ… Vì vậy, cần phải hình thành và phát triển các ngành công nghiệp này ở giai đoạn đầu như lắp  ráp điện tử; sản xuất, lắp ráp thiết bị điện; sản xuất phụ tùng máy động lực xăng; đóng mới và sửa chữa tàu khai thác thủy sản biển xa bờ…