Vì sao Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ?

Như mọi người đã biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản . Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiém lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển.

Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng. Bên cạnh mặt tích cực nó còn mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chi phối. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng bộc lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề xã hội, làm tăng thêm tính bất công và bất ổn xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và người ngèo. Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, nó còn rằng buộc các nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ ”trung tâm – ngoại vi”. Có thể nói , nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa số các nước ngèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và nước nghèo .

Chính vì thế như mà, như C.Mac đã phân tích và dự báo,chủ nghĩa tư bản tất yếu phải nhường chỗ cho một phương thức sản xuất và chế độ mới văn mới văn minh hơn, nhân đạo hơn. Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tư điều chỉnh, tự thích nghi băng cách phát triển “ nền kinh tế thị trường hiện đại ”,” nền kinh tế thị trường xã hội “, tạo ra ”chủ nghĩa tư bản xã hội ”, “ chủ nghĩa tư bản nhân dân ”,” nhà nước phúc lợi chung ” …, tức là phảI có sư can thiệp trực tiếp của nhà nứơc và cũng phải chăm lo vấn đề xã hội nhiều hơn, nhưng do mâu thuẫn từ trong bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể tự giải quyết được, có chăng nó chỉ tạm thời xoa dịu được chừng nào mâu thuẫn mà thôi. Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại đang nghày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và tự tiến hoá để chuẩn bị chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hướng xã hội hoá. Đây là tất yếu khách quan, là quy luật phát triển của xã hội. Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trường chủ nghĩa tư bản.

Mô hinh chủ nghĩa xã hội kiểu Xô – viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chưc kinh tế muốn sớm khắc phục những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản, muốn nhanh chóng xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất văn minh, hiện đại hơn chủ nghĩa tư bản. Đó là một ý tưởng tốt đẹp, và trên thực tế suốt hơn 70 tồn tại, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân Liên Xô. Nhưng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy luật (muốn xoá bỏ ngay kinh tế hàng hoá, áp dụng ngay cơ chế kinh tế phi thi trường),không năng động,kịp thời đIều chỉnh khi cần thết cho nên rút cuộc đã không thành công.

Thực ra, khi mói vận dụng học thuyết Mác vào xây dưng chủ nghĩa xã hôI ỏ nuớc Nga sau Cách mạng Tháng Mười. V.I.Le-nin cung đã từng chủ trương không áp dụng kinh tế thị trường mà thực hiện “ chính sách cộng sản thời chiến ” . Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, Người đã phát hiện ra sai lầm, khắc phục sự nóng vội bằng cách đưa ra thực hiên “ chính sách kinh tế mới”(NEP) mà nội dung cơ bản của nó là khuyến khích phát triển kinh tế hàng hoá, chấp nhận ở mức độ cơ chế thị trường. Theo V.I.Le-nin,để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước còn tương đối lạc hậu về kinh tế như ở nước Nga, cần phải sử dụng quan hệ hàng hoá – tền tệ và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đặc biệt là sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước để phát triển lực lượng sản xuất. Tuy chỉ mới thực hiện trong thời gian ngắn nhưng NEP đẵ đem lại những kết quả tích cực cho nước Nga: hồi phục và phát triển nền kinh tế bị triến tranh tàn phá, nhiều ngành kinh tế bắt đầu hoạt động năng động, nhộn nhịp hơn. Tiếc rằng tư tưởng của V.I.Le-nin về xây dựng chủ nghĩa xã hội với chính sách NEP đã không được tiếp tục thực hiên sau khi Người qua đời.Sự thành công và phát triển mạnh mẽ suốt một thời gian khá dài của Liên Xô trong công cuộc công nghiệp hoá đất nước bằng mô hình kinh tế dư trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, kế hoach hoá tập trung cao độ; phân phối thu nhập mang tính bình quân; kinh tế hàng hoá kinh tế thị trường bị loại bỏ đã có sức hấp dẫn hơn đối với nhân loại và làm cho giới lý luận kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa và các nước phát triển tuyệt đối hoá,biến thành công thức để áp dụng cho tất cả các nước đi theo con đường xã hôị chủ nghĩa.

Cũng cần nói thêm rằng, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, giới lý luận ở một số nước cũng cảm thấy có cái gì “ chưa ổn ” , cũng đă đưa ra những kiến nghị, những đề xuất, đại loại như quan điểm “chủ nghĩa xã hội thị trường ”,… nhưng không được chấp nhận.
Vào cuối nhưng năm 70 của thế kỷ XX, những hạn chế khuyết tật của mô hình kinh tế Xô-viết đã bộc lộ ra rất rõ cộng vói sự yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý lúc bấy giờ đã làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu rơI vào tình trang trì trệ, khung hoảng. Một số người lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước Liên Xô lúc đó muốn thay đổi tình hình bằng công cuộc cải cách, cải tổ, nhưng với một “ tư duy chính trị mới ”, họ đã pham sai lầm nghiêm trọng cực đoan phiến diện ( ở đây chưa nói đến sự phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa của họ và sự phá hoại thâm hiểm của các thế lực thù địch ), dẫn tới sự tan giã của Liên Xô và sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở đông Âu vào cuối những năm 80, dâu những năm 90 của thế kỷ XX dã làm lộ rõ những khuyết tật của mô hinh kinh tế cưng nhă phi thị trường, mặc dù những khuyết tật đó không phảI là nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự sụp đổ.

Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp, lại bị triến tranh tàn phá nặng nề . Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khat vọng ngàn đồi thiêng liêng của dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào ? Đó là câu hỏi lớn cực kì hệ trọng, muốn trả lời thật không đơn giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam cũng như nhiều nước khác Viêt Nam cũng áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung mang tính bao cấp. Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của đất nước thời kỳ có chiến tranh. Nhưng về sau mô hình này bộc lộ nhiều khuyết đểm và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ hanh động đơn giả nóng vội không tôn trọng quy luật khách quan, nhạn thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế Việt Nam.

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của đảng cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trong việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là một kết quả của cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức của toàn Đảng toàn dân trong nhiều năm.

Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khoa VI, phát triển thêm một bước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi “ chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ di lên chủ nghĩa xã hội ”.

Đến đại hội VII ( tháng 6 năm 1991 ), Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nươc trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng khẳng định : “ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”. Đại hội VIII của Đảng (6/1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng : “sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và ngay cả khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng”. Những lúc đó cũng mới nói nền kinh tế hang hoá, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm “ kinh tế thị trường ”. Phải đến đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) mới chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng định: phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam.