Việc điều tiết trong độc quyền cung cấp nước của nhà nước dựa trên những nguyên tắc nào?

1. Nguyên tắc công bằng giá

Nhà nước phải đảm bảo được lượng nước sạch tối thiếu cho mỗi người dân sử dụng với giá mà ai cũng có khả năng chi trả được. Trong thực tế thì nhà nước làm điều này bằng ước lượng khoảng sử dụng của mỗi người là 4m3/tháng và gia đình đúng tiêu chuẩn là 4 người, do vậy mà nhà nước quy định mức giá có hỗ trợ cho 16m3 đầu tiên/hộ gia đình/tháng. Đây là lượng sản phẩm thiết yếu mà mỗi người dân cần phải có, đảm bảo được điều này tức là nhà nước đã đạt được mục đích an ninh đời sống cho nhân dân. Nhưng thực tế ở  thành phố Hồ Chí Minh thì hộ gia đình nhiều hơn 4 người còn tồn tại một lượng lớn, nhất là những huyện ngoại thành. Do vậy mà hiệu quả của chương trình là không cao, dẫn đến khả năng phân phối ngược là người nghèo phải chịu giá cao còn người giàu thì chịu mức giá thấp.

Mặt khác, nước sạch là mặt hàng thiết yếu và cũng là đầu vào cho sản xuất nên định giá cho mỗi phân khúc này cũng phải đạt được những yêu cầu của phân phối lại, công bằng xã hội trong đó. Khi cá nhân hay tập thể sử dụng nước làm đầu vào cho quá trình sản xuất, tức là sử dụng nước cho quá trình tạo ra lợi nhuận thì phải trả mức giá cao hơn. Mỗi mức giá đều mang một ý nghĩa trong đó, nó quyết định được mục tiêu hay khả năng tạo lập cơ cấu cho công bằng xã hội. Một khi sử dụng nước cho quá trình tạo ra lợi nhuận  cho bản thân thì người này phải trả một khoản lợi nhuận cho người không sử dụng, thông qua mức giá cao hơn. Khoản lợi nhuận này nhà nước sẽ thu và hỗ trợ lại trong giá nước cho những người trong diện không sử dụng nước cho sản xuất. Ngoài ra tương tự như trên với trường hợp sử dụng nước cho quá trình kinh doanh dịch vụ kiếm lãi.

Tóm lại, nguyên tắc công bằng giá nhằm đảm bảo được một lượng nước đủ để cho mỗi người sinh hoạt hàng ngày với giá mà ai cũng đủ khả năng chi trả. Mặt khác qua nguyên tắc này thì phân phối lại diễn ra trong quá trình tính giá lũy tiến cho mỗi phân khúc. Tức là người sử dụng nhiều thì phải trả giá cao hơn và người sử dụng với mục đích ngoài sinh hoạt cũng phải trả giá cao hơn. Hay nói cách khác là nguyên tắc này nhằm đảm bảo được an ninh đời sống cho mỗi người dân và công bằng xã hội thông qua phân phối lại thu nhập.

2. Nguyên tắc công bằng sản lượng

Trong nguyên tắc công bằng sản lượng, nhà nước đảm bảo được khối lượng nước sạch mà người dân cần nếu như họ đủ khả năng chi trả. Tức là với giá nước tính theo lũy tiến thì sản lượng nước mà nhà cung cấp cho phép người dân sử dụng là không giới hạn. Công bằng với tất cả mọi người dân trong quá trình sử dụng theo sản lượng. Nếu như đủ khả năng chi trả thì mọi người dân có quyền sử dụng bao nhiêu tùy ý.