Việc trợ cấp của chính phủ cho giáo dục đại học được thực hiện như thế nào?

Thị trường giáo dục tồn tại một số thất bại như: Thông tin không hoàn hảo,  tính cạnh tranh không cao, hàng hoá không đồng nhất, hạn chế trong lựa chọn của người đi học, người mua trả tiền trước, ngoại tác tích cực trong giáo dục, và khó khăn trong tiếp cận giáo dục của người nghèo…Chính vì những thất bại trên nên chính phủ phải can thiệp vào thị trường giáo dục. Trong phạm vi đề tài này chúng tôi quan tâm đến sự tác động của chính phủ để tăng tính hiệu quả xã hội của vấn đề ngoại tác tích cực của giáo dục thông qua trợ cấp.

1.           Các hình thức trợ cấp của chính phủ cho giáo dục đại học (GDĐH):

Mỗi quốc gia có những cách thức và quy mô trợ cấp cho giáo dục khác nhau. Ở các nước phát triển, những hình thức trợ cấp cho giáo dục thường được sử dụng như: miễn thuế thu nhập theo một tỷ lệ hợp lý cho những gia đình phải đóng học phí cho con đi học, phát chứng phiếu cho trẻ em nộp vào những trường chúng mong muốn, trợ cấp kinh phí cho các trường xây dựng cơ sở vật chất.

Ở Việt Nam tồn tại hai hình thức trợ cấp cho giáo dục là đầu tư công và chương trình tín dụng hỗ trợ giáo dục.

1.1.     Đầu tư của ngân sách nhà nước:

Đây là hình thức đầu tư trực tiếp qua ngân sách Trung Ương và ngân sách địa phương( tỉnh)cho các trường cao đẳng và đại học. chính sách đầu tư gồm: chi đầu tư cho cơ sở vật chất và chi thường xuyên. Ưu tiên đầu tư tài chính và đất đai xây dựng trường học, ký túc xá cho học sinh, sinh viên trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Thông qua hai bảng số liệu trên có thể thấy, chi phí cho giáo dục ở Việt Nam trong những năm gần đây là rất lớn. Tỷ lệ chi phí cho giáo dục trên GDP năm 2005 là 8,3% vượt xa các nước phát triển cao thuộc khối OECD kể cả Mỹ, Pháp, Nhật và Hàn Quốc. Bảng trên cũng cho ta so sánh mức trách nhiệm chi phí cho giáo dục: từ ngân sách nhà nước và từ đóng góp của nhân dân. Người dân hiện nay ở Việt Nam chi trả 40% chi phí giáo dục, trong khi ở các nước phát triển cao trung bình dân chúng chỉ chi trả 20%, phần còn lại là từ ngân sách nhà nước.

1.2.     Cho vay tín dụng ưu đãi:

Để điều chỉnh sự thất bại của thị trường cung cấp tín dụng, chính phủ can thiệp bằng cách cung cấp các khoản nợ cho sinh viên.

Chương trình tín dụng hỗ trợ cho sinh viên vay vốn được khởi động từ năm 2001, nhưng đến năm 2007 chính phủ mới thực sự đẩy mạnh thực hiện chính sách này. Cho sinh viên vay vốn có thể để tăng thêm sưc gánh chịu chi phí của sinh viên.

Qũy cho vay hiện nay khoảng 13 triệu USD so với ngân sách nhà nước dành cho giáo dục khoảng 450triệu USD. Mỗi sinh viên được vay với lãi suất thấp( khoảng 50% lãi suất thị trường) với số tiền 8 triệu đồng/năm.

Trong điều kiện còn hạn chế về nguồn vốn, các chương trình thiết thực này góp phần mở rộng số lượng sinh viên theo học các trường trung cấp nghề, cao đẳng và đại học hơn.

Muốn thực hiện chương trình cho sinh viên vay vốn thành công thì quỹ cho vay phải đủ lớn bằng khỏang 40-50% ngân sách nhà nước dành cho giáo dục. Nhà nước có thể huy động vốn bằng cách phát hành nhiều hơn những trái phiếu giáo dục.

Ngoài ra chính sách tín dụng cũng nên mở rộng hơn đối với các đối tượng sinh viên cũng như đơn giản hóa các thủ tục, giấy tờ. Nên lập ra những quỹ đầu tư có thể gọi là quỹ đầu tư mạo hiểm đối với những dự án có tiềm năng của sinh viên tạo điều kiện cho họ có cơ hội tiếp cận thực tiễn cũng như giúp họ có khả năng tự chi trả học phí, phí sinh họat cho mình, tạo việc làm cho những sinh viên khác.