Việt Nam và nguy cơ mắc phải “căn bệnh Hà Lan”

 

Một trong những nguyên nhân gây ra căn bệnh Hà Lan ở một số quốc gia là sự gia tăng ào ạt của dòng ngoại tệ (vốn) nước ngoài vào một số khu vực kém bền vững (như khu vực khai thác khoáng sản).

Khi đó, những tác động của Căn bệnh Hà Lan sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế quốc dân. Cụ thể, hiệu ứng chuyển nguồn lực sẽ gây nên sự di chuyển nguồn lao động từ khu vực chế tạo (manufacturing sector) đến khu vực đang “bùng nổ” và hiệu ứng tiêu dùng sẽ dẫn đến tình trạng suy giảm xuất khẩu, kém cạnh tranh của khu vực chế tạo và do đó mà nền kinh tế suy thoái dần.

Tại Việt Nam, qua hơn 20 năm từ “đổi mới”, dòng vốn ngoại tệ từ nước ngoài (đặc biệt là đầu tư trực tiếp FDI, và ODA) đổ vào ngày càng nhiều. Phải chăng đây là những dấu hiệu đầu tiên của Căn bệnh Hà Lan hay chỉ là nguy cơ? Thực tế cho thấy, những năm 1970,  khi giá dầu trên thế giới tăng vọt, Indonesia, một nước xuất khẩu dầu lớn đã không mắc phải căn bệnh này nhờ biết dùng nguồn ngoại tệ thu được vào việc xây dựng hạ tầng và giáo dục [1]. Như vậy, không phải việc nguồn ngoại tệ vào nhiều hay ít mà chính việc sử dụng dòng ngoại tệ ấy như thế nào mới quyết định việc một quốc gia có tránh được căn bệnh Hà Lan hay không.

Để có được cái nhìn sâu sắc về nguy cơ mắc phải căn bệnh Hà Lan của Việt Nam, chúng tôi xin được điểm qua hiện trạng thu hút và sử dụng dòng vốn nước ngoài trong hơn 20 năm qua trước khi phân tích những tác động của nó.