Xác định vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

1 . Xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp

Luật Cạnh tranh không định nghĩa thế nào là vị trí thống lĩnh mà chỉ quy định các căn cứ để xác định doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường liên quan. Điều 11 Luật Cạnh tranh quy định về vị trí thống lĩnh như sau:

“Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể;  Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể và thuộc một trong các trường hợp sau:

– Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;

  – Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;

-  Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.”  Điều 12 Luật Cạnh tranh quy định về vị trí độc quyền như sau:

 “Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.”  Như vậy, đối tượng có vị trí thống lĩnh có thể là một hoặc một nhóm doanh nghiệp. Các căn cứ xác định vị trí thống lĩnh cho hai đối tượng trên không giống nhau. Pháp luật của các nước đều có những quy định tương tự về đối tượng có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường liên quan.

                a. Vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp

Theo khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh nếu thuộc một trong hai trường hợp sau đây:

                Trường hợp 1:  Doanh nghiệp đó có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan.       Doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan đương nhiên được coi là có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan. Như vậy, để xác định vị trí thống lĩnh, cần xác minh thị trường liên quan và thị phần của doanh nghiệp bị điều tra.

 Thị trường liên quan trong một vụ việc về hành vi lạm dụng là thị trường mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đang kiểm soát hoặc chi phối. Thế nên, thị trường liên quan không đồng nghĩa với ngành, lĩnh vực kinh tế mà doanh nghiệp đó đang tham gia kinh doanh mà là thị trường cạnh tranh của doanh nghiệp bị điều tra. Việc phân tích nhằm xác định trong khu vực sản phẩm và địa lý đang kinh doanh, doanh nghiệp bị điều tra có cạnh tranh với doanh nghiệp nào khác không. Do đó, thị trường liên quan được xác định theo những dấu hiệu cơ bản như:

 Một là, dấu hiệu về hàng hóa, dịch vụ. Theo dấu hiệu này, cần xem xét xem trên thị trường liên quan của doanh nghiệp bị điều tra có bao nhiêu loại sản phẩm cụ thể. Cách sắp xếp này không hoàn toàn giống việc phân ngành kinh tế của các nhà kinh tế vĩ mô. Thí dụ, người ta có thể nói đến một thị trường năng lượng song trên thực tế, người ta biết đến vố số những sản phẩm và hàng hóa đang xuất hiện trên thị trường này, mặc dù nhiều loại sản phẩm không tham gia cạnh tranh với nhau được. Thị trường liên quan có thể chỉ là một phân đoạn cụ thể của quy trình sản xuất hoặc chỉ bao gồm một sản phẩm cụ thể đáp ứng cho một nhóm khách hàng riêng biệt hoặc có thể bao trùm toàn bộ một ngành, một lĩnh vực kinh tế mà doanh nghiệp bị điều tra tham gia sản xuất, kinh doanh. Vì thế, dấu hiệu này được xác định từ những sản phẩm có khả năng thay thế cho sản phẩm bị điều tra.

 Hai là, dấu hiệu về phương diện địa lý – phạm vi không gian mà các sản phẩm thay thế cho nhau (bao gồm sản phậm bị điều tra và các sản phẩm cạnh tranh với nó) được tiêu thụ chủ yếu. Phạm vi này được cấu thành từ những khu vực địa lý cụ thể cùng tiêu thụ sản phẩm bị điều tra và các sản phẩm thay thế cho nó với điều kiện là các khu vực này có điều kiện cạnh tranh tương tự nhau. Vì thế khi khoanh vùng thị trường liên quan về phương diện địa lý, cần xác định chính xác những khu vực có tiêu thụ sản phẩm bị điều tra và khu vực tiêu thụ sản phẩm thay thế. Sau đó, thẩm tra các điều kiện cạnh tranh giữa những khu vực này bằng các điều kiện vận chuyển, chi phí và thời gian vận tải…. Nói chung, sẽ không có một công thức nào đúng cho mọi thị trường liên quan khi phải phân khúc về phương diện không gian. Vấn đề quả thực không đơn giản và cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ phải lường trước được những cửa ải phức tạp. Mặt khác, quy mô về địa lý của các thị trường có thể thay đổi theo thời gian bởi sự phát triển của các phương tiện vận tải và thông tin liên lạc cũng như sự phát triển của các kỹ thuật kinh doanh. Một số thị trường trước đây mang tính địa phương, song hiện nay đang có xu hướng mất đi tinh chất này. Không còn cách nào khác, cơ quan quản lý cạnh tranh quốc gia phải cân nhắc đến tình hình thực tế đặc thù của “công nghệ” kinh doanh của từng loại sản phẩm, hàng hóa mà phán xét theo tiêu chí cơ bản về địa bàn tập trung của việc tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra, thị trường liên quan còn được xem xét dưới góc độ thời gian, có những thị trường được hình thành tức thời và nhanh chóng biến mất, song cũng có những trường luôn tồn tại. Với những sản phẩm được mua bán liên tục thì vấn đề thời gian sẽ không đặt ra trong việc xác định thị trường liên quan. Nhưng có những hàng hóa mang tính mùa vụ hoặc quan hệ mua bán nhất thời như bánh trung thu vào mùa tết trung thu hoặc các hội chợ được tổ chức trong thời gian ngắn… thì cần xem xét đến yếu tố thời gian khi xác định phạm vi của thị trường liên quan trong các vụ việc về hành vi lạm dụng.

Trong trường hợp này, thị phần là căn cứ duy nhất để xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan sẽ mặc nhiên được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường. Việc nắm thị phần lớn cho thấy khả năng chi phối cung – cầu trên thị trường nên pháp luật cạnh tranh của các nước cũng sử dụng thị phần làm căn cứ cơ bản để xác định quyền lực thị trường của doanh nghiệp. Sự khác nhau chủ yếu trong pháp luật các nước là mức thị phần được sử dụng để xác định quyền lực thị trường. Ví dụ, ở Vương quốc Anh, một doanh nghiệp được xem là có vị trí thống lĩnh khi mua hoặc bán 25% trở lên của một loại hàng hoá, dịch vụ trong nước hoặc trên một khu vực nhất định. Trong khi đó, luật của Mông cổ và Ucraina cho rằng vị trí thống lĩnh của một hoặc một nhóm công ty chỉ xuất hiện khi chúng chiếm trên 50% mức cung ứng một loại sản phẩm nào đó; pháp luật của Liên bang Nga đưa ra mức thị phần của doanh nghiệp thống lĩnh là 65%(UNCTAD, sđd, tr 52-53.).

Như vậy, pháp luật Việt Nam đã sử dụng phương pháp định lượng (ấn định mức thị phần cụ thể) để xác định vị trí thống lĩnh thị trường. Do đó, chỉ cần xác định doanh nghiệp bị điều tra có thị phần bằng hoặc vượt ngưỡng quy định là kết luận có vị trí thống lĩnh thị trường mà không cần chứng minh doanh nghiệp đó có khả năng kiểm soát thị trường trên thực tế hay không. Với cách tiếp cận này, pháp luật không cần đưa ra khái niệm mang tính học thuật mà chỉ quy định căn cứ pháp lý để xác định về vị trí thống lĩnh. Do đó, có thể dễ dàng kết luận một doanh nghiệp đang thống lĩnh thị trường nếu đã xác định được thị trường liên quan và thị phần của doanh nghiệp đó. Pháp luật của nhiều nước (đặc biệt là những nước có nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý các vụ việc về hạn chế cạnh tranh như các nước trong cộng đồng châu Âu, Hoa Kỳ, Canađa…) ưu tiên sử dụng cách đánh giá đa tiêu chí theo từng vụ việc cụ thể để xác định vị trí thống lĩnh thị trường. Với quan niệm cho rằng doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp có khả năng kiểm soát thị trường trên thực tế hoặc là doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi cạnh tranh, không chịu sự ràng buộc của thị trường và đóng vai trò chủ đạo trên thị trường, án lệ của các nước đều khẳng định thị phần là một trong những nhân tố quan trọng song chưa phải là duy nhất cấu thành nên quyền lực thị trường(CIDA, sđd, tr 186; Dominique Brault, sđd, tr 235.). Tại Pháp, việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường được tiến hành dựa trên nhiều tiêu chí, trong đó chủ yếu là các tiêu chí sau: thị phần của doanh nghiệp; sự mất cân đối giữa các lực lượng trên thị trường (quy mô của doanh nghiệp, doanh nghiệp có trực thuộc tập đoàn, khả năng tài chính, sự yếu kém của các đối thủ cạnh tranh); những lợi thế của doanh nghiệp bị điều tra như trình độ công nghệ, hiệu quả quản lý, uy tín nhãn hiệu…; các yếu tố khách quan khác có khả năng cho phép doanh nghiệp tránh được áp lực cạnh tranh như các rào cản…. Pháp luật của Canada yêu cầu cơ quan điều tra cần phân tích kết hợp nhiều yếu tố như thị phần của doanh nghiệp bị điều tra, thị phần của các doanh nghiệp còn lại trên thị trường, sự tồn tại của các rào cản gia nhập…. Từ đó, Cục Quản lý cạnh tranh Canađa đã đặt ra nguyên tắc: một doanh nghiệp có thị phần thấp hơn 35% không thể có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp có thị phần từ 35% trở lên cần được tiếp tục xem xét bằng cách đánh giá thêm những yếu tố khác(CIDA, sđd, tr 186; Dominique Brault, sđd, tr 235-240.).

Luật Cạnh tranh Ấn Độ năm 2002 định nghĩa vị trí thống lĩnh là một vị trí có sức mạnh, do một doanh nghiệp nắm giữ cho phép doanh nghiệp đó:

– Hoạt động độc lập với các lực lượng cạnh tranh áp đảo khác trên thị trường;  – Gây ảnh hưởng đối với các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng hoặc thị trường có liên quan của doanh nghiệp theo mong muốn của doanh nghiệp đó.

Pháp luật về cạnh tranh của Hoa Kỳ không quy định cụ thể về vị trí thống lĩnh, nhưng trong các án lệ, Toà án của nước này lại xác định vị trí thống lĩnh là quyền kiểm soát giá cả thị trường hoặc loại trừ cạnh tranh…. Do đó, pháp luật ở nhiều quốc gia không coi thị phần là yếu tố duy nhất hay quan trọng nhất mà các yếu tố tổng hợp có thể tác động đồng thời đến khả năng chi phối thị trường của doanh nghiệp sẽ phản ánh quyền lực của doanh nghiệp trên thị trường liên quan. Cách thức này sẽ khắc phục được những tình huống có thị phần lớn nhưng do chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan nên không thể chi phối thị trường, do đó doanh nghiệp không thể được coi là có vị trí thống lĩnh. Tuy nhiên, để việc phân tích tổng hợp có hiệu quả, thị trường phải đảm bảo yếu tố minh bạch, trung thực về thông tin, người thực thi phải có được đủ trình độ chuyên môn, kỹ thuật… Trong khi đó, thị phần được coi là cơ sơ quan trọng nhất để xác định vị trí thống lĩnh, còn các yếu tố như rào cản gia nhập thị trường, tương quan thị trường lại được sử dụng để xác định thị trường liên quan mà không phải được dùng để phân tích quyền lực của doanh nghiệp.

Như vậy, mặc dù có sự khác nhau về số lượng các tiêu chí được sử dụng, song pháp luật của các nước nói trên đều có chung quan điểm cho rằng doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh phải có khả năng kiểm soát thị trường trên thực tế (cụ thể là kiểm soát giá cả của sản phẩm). Do đó, một doanh nghiệp có thị phần lớn, song không thể chi phối thị trường vì có nhiều yếu tố khác ngăn trở như sự tồn tại của các rào cản, quy mô của đối thủ cạnh tranh… thì không thể kết luận là doanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh. Ngược lại, có thể tồn tại vị trí thống lĩnh với một doanh nghiệp có thị phần không lớn nhưng lại chi phối được thị trường vì đang nắm giữ nhiều lợi thế cạnh tranh như trình độ công nghệ, khả năng tài chính, sự hậu thuẫn của các tập đoàn…. Với cách tiếp cận này, pháp luật không đặt ra ngưỡng thị phần cụ thể mà trao cho cơ quan cạnh tranh quyền đánh giá về khả năng kiểm soát thị trường của các doanh nghiệp bị điều tra theo điều kiện của từng vụ việc cụ thể.

Kinh nghiệm của các nước cho thấy, phương pháp định lượng mà Luật Cạnh tranh năm 2004 sử dụng một mặt đem lại sự thuận lợi cho cơ quan điều tra nhưng mặt khác có thể tồn tại những sai số cho việc kết luận về vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp bị điều tra. Bởi vẫn còn khả năng doanh nghiệp chưa đủ ngưỡng thị phần luật định song lại có thể chi phối thị trường bằng tiềm lực về công nghệ, về tài chính, về hệ thống phân phối… và ngược lại.

Trường hợp 2:  Doanh nghiệp đó có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.  Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường khi có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Trường hợp này được sử dụng để xác định vị trí thống lĩnh khi một doanh nghiệp chưa tích lũy đủ mức thị phần tối thiểu (tức là có thị phần dưới 30% trên thị trường liên quan) nhưng có khả năng thực hiện những hành vi gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP không giải thích mà chỉ đưa ra các căn cứ để xác định khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể, bao gồm:

  1. Năng lực tài chính của doanh nghiệp;
  2. Năng lực tài chính của tổ chức cá nhân thành lập doanh nghiệp;
  3. Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp;
  4. Năng lực tài chính của công ty mẹ;
  5. Năng lực công nghệ;
  6. Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp;
  7. Quy mô của mạng lưới phân phối;
  8. Các căn cứ khác mà Cơ quan Quản lý cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh cho là phù hợp”(Điều 22 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.)

Việc quy định về vị trí thống lĩnh cho các doanh nghiệp có thị phần dưới 30% trên thị trường nhưng có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể nhằm bổ sung và khắc phục những hạn chế của việc sử dụng thị phần làm căn cứ duy nhất để xác định vị trí thống lĩnh. Như đã phân tích, nếu chỉ sử dụng thị phần làm căn cứ xác định vị trí thống lĩnh thì vẫn có thể bỏ sót những trường hợp đặc biệt do doanh nghiệp nắm giữ nhiều lợi thế vể tài chính, công nghệ, hệ thống phân phối… nên có thể chi phối thị trường và thực hiện những hành vi làm sai lệch môi trường cạnh tranh. Trong trường hợp này, thị phần hiện tại của doanh nghiệp chưa cho thấy khả năng làm sai lệch cung – cầu nhưng lại có tiềm lực tài chính của doanh nghiệp hoặc sự hỗ trợ tài chínnh của các chủ sở hữu, của tập đoàn hoặc quy mô của mạng lưới phân phối, sức mạnh công nghệ… để thực hiện những hành vi gây ra hậu quả hạn chế cạnh tranh. Nghị định 116.2005.NĐ-CP chỉ liệt kê các tiêu chí xác định khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể mà không đưa ra mức định lượng cho từng tiêu chí. Do đó, tùy theo từng vụ việc cụ thể, cơ quan có thẩm quyền sẽ phân tích, đánh giá và đưa ra kết luận. Cơ quan có thẩm quyền có thể sử dụng tất cả hoặc một số tiêu chí trên để đánh giá về vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp.

Việc sử dụng khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể làm căn cứ dự phòng khi xác định vị trí thống lĩnh thị trường nếu yếu tố thị phần chưa đủ để kết luận sẽ có ý nghĩa đối với quá trình đấu tranh chống các toan tính lạm dụng sức mạnh tài chính, công nghệ để lũng đoạn thị trường từ phía các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Khả năng xuất hiện những thủ đoạn cấu kết ngầm hoặc đầu tư ngầm để chiếm lĩnh, lũng đoạn thị trường từ các thế lực tài chính quốc tế và trong nước không phải là ít. Chúng có thể dựng lên các doanh nghiệp dưới hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc doanh nghiệp trong nước làm bình phong để thực hiện những tính toán nói trên. Nếu phân tích từ thị phần, thì những doanh nghiệp này không đủ tiêu chuẩn để được coi là thống lĩnh hoặc độc quyền, song với sự tài trợ của các doanh nghiệp mẹ, chúng có thể thực hiện những hành vi hạn chế cạnh tranh và có khả năng gây ra hậu quả không khác gì doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thực sự. Vì vậy, khi sử dụng khả năng hạn chế cạnh tranh làm căn cứ kết luận về vị trí thống lĩnh, chúng ta sẽ có cơ sở để đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực nhằm hạn chế cạnh tranh ngay từ trong những giai đoạn đầu của một chiến lược chiếm lĩnh thị trường, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế đảm bảo sự phát triển lành mạnh và an ninh cho nền kinh tế.

                b. Vị trí thống lĩnh của một nhóm doanh nghiệp

Theo khoản 2 Điều 11 Luật Cạnh tranh, một nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nếu thỏa mãn hai điều kiện sau:

Một, cùng hành động gây hạn chế cạnh tranh (thực hiện cùng một hành vi hạn chế cạnh tranh);

Hai, tổng thị phần của các doanh nghiệp trong nhóm đạt các mức sau:

–  Nếu nhóm có hai doanh nghiệp, tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;

–  Nếu nhóm có ba doanh nghiệp, tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;

– Nếu nhóm có bốn doanh nghiệp, tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;

Theo nghĩa thông thường, nhóm doanh nghiệp bao gồm những doanh nghiệp có mối liên hệ về kinh tế, tài chính và tổ chức với nhau như nhóm doanh nghiệp có quan hệ mẹ – con, nhóm doanh nghiệp trong cùng tập đoàn, nhóm doanh nghiệp cùng tham gia một thỏa thuận…. Tuy nhiên, trong trường hợp này, khái niệm nhóm doanh nghiệp không được xác định từ những quan hệ kinh tế, tài chính, tổ chức hay thỏa thuận nói trên mà bao gồm các doanh nghiệp đã thực hiện cùng một hành vi hạn chế cạnh tranh. Các doanh nghiệp trong nhóm là những doanh nghiệp độc lập và đã thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh giống nhau trong cùng một khoảng thời gian trên cùng thị trường liên quan.

Như vậy, không phải đương nhiên có một nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nếu các doanh nghiệp chưa thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh. Khi chưa có hành vi hạn chế cạnh tranh được thực hiện, các doanh nghiệp vẫn còn là những chủ thể kinh doanh độc lập. Việc cùng thực hiện cùng một hành vi gây hạn chế cạnh tranh là lý do để gom các doanh nghiệp đơn lẻ thành nhóm doanh nghiệp. Dưới góc độ so sánh, có thể xác định một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường ngay cả khi doanh nghiệp đó chưa thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ bằng hai căn cứ là thị phần và khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Song với nhóm doanh nghiệp thì khi các doanh nghiệp chưa thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, cơ quan có thẩm quyền chưa thể xếp các doanh nghiệp đơn lẻ thành một nhóm để kết luận có hay không có vị trí thống lĩnh thị trường.

Một vấn đề luôn gây ra tranh cãi trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh ở nhiều nước là các doanh nghiệp có thỏa thuận về việc thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh hay không. Tại EU, trong quá trình phát triển của pháp luật cạnh tranh đã nảy sinh những quan điểm khác nhau về vấn đề này. Ngay từ năm 1979, Hội đồng cạnh tranh Pháp đã sử dụng lý thuyết về hành động phối hợp để cho rằng Hội đồng có quyền xử lý các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh tập thể của một số ít doanh nghiệp hoạt động trên thị trường dù giữa họ không có thỏa thuận(CPhụ lục tạp chí ADCC Lamy, số 150, xem các báo cáo thường niên của Hội đồng Cạnh tranh năm 1979 và 1980, tr. 37.). Cơ quan này cũng đưa ra khuyến cáo rằng không phải cứ thấy các doanh nghiệp có hành vi giống nhau là kết luận ngay họ đã có sự phối hợp cùng hành động. Hội đồng chỉ đưa ra kết luận về việc lạm dụng tập thể nếu chứng minh rằng việc thực hiện hành vi giống nhau đó không thể giải thích theo cách nào khác ngoài việc đã có sự phối hợp hành động. Quan điểm này tương tự với những quan điểm đã tồn tại ở Hoa Kỳ. Ngay từ năm 1946, các cơ quan thực thi pháp luật của Hoa Kỳ đã cho rằng nếu vài doanh nghiệp cùng áp dụng một chính sách như nhau trên thị trường (đặc biệt là chính sách giá), cho dù họ không có thỏa thuận với nhau, vẫn có thể cấu thành một hành vi thống nhất cùng hành động chiểu theo quy định tại Mục II Luật Sherman nếu các doanh nghiệp này có thể kiểm soát thị trường(Dominique Brault, sđd, tr 243.).  Tuy nhiên, Hội đồng Cạnh tranh Pháp lại cho rằng “trong trường hợp một số doanh nghiệp hoạt động trên cùng thị trường mà không có doanh nghiệp nào chiếm vị trí thống lĩnh và chiến lược kinh doanh của họ được xây dựng một cách độc lập với nhau thì không thể nhìn nhận những doanh nghiệp đó là một nhóm doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh trên thị trường chỉ vì lý do mỗi doanh nghiệp trong số đó đã lựa chọn một chiến lược tương tự như chiến lược của các doanh nghiệp còn lại”(Hội đồng Cạnh tranh Pháp, Báo cáo thường niên năm 1987.). Quan điểm này là sự tiếp nối quan điểm của Tòa án Công lý của EU cho rằng để có thể kết luận việc thực hiện những hành vi giống nhau là một sự phối hợp hành động theo Điều 81 Hiệp ước Rome hoặc là một sự lạm dụng tập thể theo Điều 82 thì cần phải hội đủ hai điều kiện: các doanh nghiệp phải ý thức được sự giống nhau đó và phải cố ý thực hiện. Cho đến nay, sau những tranh luận của các nhà khoa học và các cơ quan thực thi pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền của EU, của Pháp đã chấp nhận quan điểm cho rằng các doanh nghiệp có thể nắm vị trí thống lĩnh thị trường cho dù giữa họ không tồn tại các mối liên hệ về kinh tế và tài chính, không có thỏa thuận về hành vi hạn chế cạnh tranh(Dominique Brault, sđd, tr 248-249.). Việc các doanh nghiệp không có thỏa thuận nhưng thực hiện cùng một hành vi hạn chế cạnh tranh không có thỏa thuận là căn cứ để kết luận về vị trí thống lĩnh của nhóm doanh nghiệp nếu sự kết hợp giữa các doanh nghiệp đủ để kiểm soát thị trường.

Pháp luật cạnh tranh của Canađa cũng quy định về nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh. Theo đó, hành động giống nhau có chủ ý là cơ sở để gom các doanh nghiệp thành nhóm thống lĩnh. Hành động giống nhau có chủ ý không phải là một thỏa thuận về hành vi hạn chế cạnh tranh mà chỉ là sự phối hợp về hành vi giữa các doanh nghiệp độc lập. Từng doanh nghiệp trong nhóm được xem xét đã có những quyết định dựa vào hành vi của đối thủ. Sự tương tác giữa các hành vi giống nhau (nhưng không là kết quả của thỏa thuận) đã tạo nên chiến lược hạn chế cạnh tranh tập thể của nhóm doanh nghiệp. Do đó, một nhóm doanh nghiệp liên kết hành động mà không có một thỏa thuận rõ ràng sẽ được giải quyết theo những quy định về lạm dụng tập thể(CIDA, sđd, tr 191-192.).  Cho đến nay, các quy định về nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trong Luật Cạnh tranh năm 2004 chưa tạo ra những tranh luận trong khoa học pháp lý Việt Nam. Lý do của tình trạng này là pháp luật cạnh tranh còn non trẻ và việc áp dụng Luật cạnh tranh chưa có những tác động lớn đến thị trường. Với các quy định hiện hành về hành vi hạn chế cạnh tranh, mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp về việc thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ cấu thành nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Trong trường hợp các doanh nghiệp cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh được quy định tại Điều 13 Luật Cạnh tranh mà không chứng minh được có thỏa thuận thì có thể xem xét xử lý theo chế định về lạm dụng nếu thỏa mãn điều kiện về thị phần của nhóm doanh nghiệp thống lĩnh thị trường.

Với một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật xử lý các doanh nghiệp tham gia bởi mục đích hạn chế cạnh tranh đã được chứng minh một cách rõ ràng qua sự thống nhất ý chí (thỏa thuận) cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh. Với việc lạm dụng của một nhóm doanh nghiệp, pháp luật không xử lý doanh nghiệp vì mục đích hạn chế cạnh tranh mà vì hậu quả hạn chế cạnh tranh mà hành vi của họ gây ra cho thị trường. Việc cùng thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh giống nhau có thể là phản ứng ngẫu nhiên của các doanh nghiệp, có thể là những phản ứng dây chuyền, thậm chí là sự thỏa thuận ngầm mà cơ quan có thẩm quyền không thể tìm được bằng chứng về thỏa thuận. Song, trong mọi trường hợp, hành vi của các doanh nghiệp nếu không được chấm dứt sẽ làm sai lệch, làm giảm hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Chế định về nhóm doanh nghiệp thống lĩnh được đặt ra nhằm bảo vệ cơ cấu cạnh tranh của thị trường cho dù không chứng minh được ý chí hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp.

                Vì khuyết các bằng chứng về ý chí của doanh nghiệp thực hiện hành vi nên các quy định về nhóm doanh nghiệp thống lĩnh thị trường đặt ra những điều kiện chặt chẽ hơn so với việc xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:

–  Với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các doanh nghiệp tham gia chỉ cần thống nhất thực hiện một trong những hành vi hạn chế cạnh tranh là có thể xử lý nếu đáp ứng các điều kiện xử lý theo nguyên tắc cấm tuyệt đối hoặc nguyên tắc thị phần từ 30% trở lên (hành vi hạn chế cạnh tranh có thể đã, đang hoặc chưa được thực hiện trên thực tế). Trong khi đó, các doanh nghiệp chỉ bị quy kết là có vị trí thống lĩnh tập thể khi hành vi hạn chế cạnnh tranh đã được thực hiện trên thực tế;

–  Số lượng các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận không là căn cứ để xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Có nghĩa là chỉ cần có từ hai doanh nghiệp trở lên cùng nhau thống nhất thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là đủ cấu thành nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh chỉ có thể bao gồm từ 2 đến 4 doanh nghiệp. Do đó, nếu có từ 5 doanh nghiệp trở lên trên thị trường liên quan cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh mà cơ quan có thẩm quyền không có đủ bằng chứng về việc giữa họ có thỏa thuận thi cũng không thể quy kết là nhóm doanh nghiệp thống lĩnh thị trường.

–  Tổng thị phần để kết luận nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh luôn cao hơn nhiều so với tổng thị phần để có thể xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Khi có hai doanh nghiệp cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, pháp luật chỉ có thể xử lý theo chế định về nhóm thống lĩnh khi tổng thị phần đạt từ 50% trở lên trên thị trường liên quan (tương ứng với 3 doanh nghiệp là 65%; 4 doanh nghiệp là 75% trở lên trên thị trường liên quan). Trong khi đó, trừ ba loại thỏa thuận bị cấm tuyệt đối (không căn cứ vào thị phần), các thỏa thuận còn lại bị cấm khi tổng thị phần của các doanh nghiệp tham gia đạt từ 30% trở lên trên thị trường liên quan (dù số lượng tham gia là 2 doanh nghiệp trở lên).

Như vậy, không phải mọi trường hợp nhiều doanh nghiệp cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh mà không có thỏa thuận (hoặc ít nhất là không chứng minh được họ có thỏa thuận) đều quy kết về nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh để xử lý bằng chế định về hành vi lạm dụng. Sẽ có những trường hợp nếu có thỏa thuận thì xử lý theo pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, song nếu không có thỏa thuận hoặc không chứng minh được có sự thỏa thuận giữa các doanh nghiệp thì không thể xử lý. Cụ thể là những trường hợp mà số lượng doanh nghiệp thực hiện hành vi từ 5 doanh nghiệp trở lên hoặc tổng thị phần ở các mức từ 30 đến dưới 50% đối với nhóm 2 doanh nghiệp (từ 30 đến dưới 65% đối với nhóm 3 doanh nghiệp…).

2 . Vị trí độc quyền của doanh nghiệp

Theo Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan. Dưới góc độ lý thuyết, vị trí độc quyền đã loại bỏ khả năng có sự tồn tại của cạnh tranh trên thị trường liên quan bởi tại đó chỉ có một doanh nghiệp duy nhất là doanh nghiệp đang được xem xét hoạt động. Do đó, khi xác định vị trí độc quyền, cơ quan cạnh tranh chỉ cần:

–  Xác định thị trường liên quan;

–  Xác định số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường. Nếu kết luận đưa ra là chỉ có một doanh nghiệp duy nhất thì doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền. Các bước phân tích về doanh thu, doanh số… để xác định tổng thị phần của thị trường sẽ không còn cần thiết.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • thế nào là lạm dụng vị thế thống lĩnh thị trường
  • vụ án thực tế về lạm dụng vị trí thống lĩnh
  • ,