Xây dựng thang đo trong mô hình nghiên cứu

Dựa vào mô hình nghiên cứu lý thuyết trong chương hai, nghiên cứu cần xác định thang đo cho các khái niệm nghiên cứu sau đậy: (1) trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, (2) lợi ích kinh doanh, (3) lãnh đạo và (4) hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Sử dụng cơ sở lý thuyết ở mục 2.1, 2.2 và 2.3 trong chương 2 và kết quả nghiên cứu định tính (xem phần phụ lục về nghiên cứu định tính) nghiên cứu xác định được các biến quan sát, biến tiềm ẩn, biến trung gian cho mô hình nghiên cứu được thể hiện sau đây:

(1) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp:

  • Môi trường
  • Khách hàng
  • Nhân viên
  • Nhà cung cấp
  • Cộng đồng

(2) Lợi ích kinh doanh

  • Danh tiếng
  • Thu hút, giữ chân khách hàng
  • Thu hút, giữ chân nhân viên
  • Tiếp cận vốn

(3) Lãnh đạo

  • Xây dựng tầm nhìn đạo đức
  • Giải quyết vấn đề với cấp dưới theo cách thuyết phục hợp lý
  • Cho nhân viên góp ý kiến và xây dựng nội quy linh hoạt
  • Hiểu sự thay đổi là cần thiết
  • Luôn giữ vững quan điểm và luôn định hướng trước kết quả
  • Kỹ năng giải quyết vấn đề của nhà lãnh đạo

(4)    Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

  • ROA ( Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản)
  • ROE (Lợi nhuận ròng trên doanh thu)
  • ROS (Lợi nhuận ròng trên doanh thu)

Thang đo trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không thể đo lường trực tiếp mà phải thông qua việc đo lường thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua các bên liên quan. Cụ thể đó là khách hàng, nhân viên, nhà cung ứng, môi trường và cộng đông. Điều này đồng nghĩa với việc thực hiện trách nhiệm xã hội với các bên liên quan hay nói cách khác đó là các hoạt động của doanh nghiệp đối với các bên liên quan.

Freeman (1984) đã đưa các bên liên quan bao gồm: nhà cung cấp, khách hàng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng địa phương và nhà quản lý trong vai trò là nhà đại diện cho nhóm này. Mc Porter cũng đã nhận định trong bài viết “Mô hình PEST trong phân tích môi trường vi mô” cũng đã nhận định các bên liên quan là một nhóm áp lực có tác động tới toàn bộ các doanh nghiệp hoạt động trong một ngành bất kỳ. Như thế, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không thể đo lường trực tiếp được khi tiếp xác với đối tượng phỏng vấn, tuy nhiên có thê đánh giá việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với nhóm các bên liên quan thông qua việc đánh giá việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với các nhóm các bên liên quan. Thang đo trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, thông qua nghiên cứu định tính đã xác định được việc đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua các bên liên quan (Freeman, 1984) cụ thể như sau:

Thang đo về lợi ích kinh doanh

Lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp được đo lường bởi bốn nhóm đới tượng cụ thể đó là (theo Sweeney, 2004): (1) Danh tiếng, (2) Lòng trung thành của nhân viên, (3) Lòng trung thành của khách hàng, (4) Khả năng tiếp cận vốn. Như vậy thang đo cho từng biến tiềm ẩn của lợi ích kinh doanh đó là:

Thang đo về lãnh đạo

Khi xem xét lại các nghiên cứu về lãnh đạo, Stogdill (1974) đã chỉ ra rằng mỗi nhà nghiên cứu khác nhau có những định nghĩa khác nhau về lãnh đạo mặc dù tất cả đều hiểu rõ ý nghĩa thật sự của nó. Hơn một thế kỉ qua, từ khi lãnh đạo trở thành chủ đề quan tâm của các nhà nghiên cứu thì định nghĩa về nó cũng phát triển và có những thay đổi liên tục.

Dvir và cộng sự (2002) đã định nghĩa lãnh đạo chuyển đổi là phong cách lãnh đạo tạo ra những hành vi lôi cuốn, khơi dậy động lực truyền cảm hứng, cung cấp sự kích thích trí tuệ và xem xét từng cá nhân khi đối xử với nhân viên,…những hành vi này làm thay đổi nhân viên, giúp họ phát huy tối đa tiềm năng và đạt được mức hiệu quả cao nhất trong công việc. Burn (1978) cho rằng lãnh đạo chuyển đổi là người làm rõ tầm nhìn của tương lai và chia sẽ với nhân viên, kích thích trí tuệ nhân viên và quan tâm đến sự khác biệt cá nhân giữa các nhân viên.

Humphries (2001) cho rằng ngày nay lãnh đạo giao dịch là phong cách lãnh đạo thường được thể hiện nhất trong kinh doanh và đặc trưng bởi một hệ thống khen thưởng cho những nhân viên đạt được mục tiêu của tổ chức. Phong cách giao dịch của lãnh đạo liên quan đến sự trao đổi giữa các nhà lãnh đạo và nhân viên mà ở đó cả hai bên đều nhận được một cái gì đó có giá trị. Thông thường nhân viên nhận được phần thưởng tài chính còn người lãnh đạo thì đạt được những mục tiêu đề ra. Thang đo lãnh đạo được chọn theo phong cách giao dịch và cụ thể thang đo lãnh đạo được thể hiện như sau:

Thang đo về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Có nhiều nhóm dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cụ  thể cho nghiên cứu đã được bàn luận trong chương 2 đó là nhóm tỷ số hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vì đánh giá sâu sắc hơn về hiệu quả lâu dài của doanh nghiệp và sâu sắc hơn về nội dung. Như vậy, tỷ số lợi nhuận trên doanh thu phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của ngành sản xuất kinh doanh. Bên cạnh các hệ số tài chính khác thì ROE là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời. Đây cũng là một chỉ số đáng tin cậy về khả năng một công ty có thể sinh lời trong tương lai và ROA phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo doanh nghiệp, hệ số này càng cao càng thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản một cách hợp lý và hiệu quả. Một DN đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ là tốt hơn so với DN đầu tư nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu được lại thấp.

Như vậy thang đo hiệu quả hoạt động (theo Davidson và Worrell,1995;

Preston và O’Bannon, 1997) được thể hiện như sau: