Xu hướng biến động của phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay

2. Khoảng cách phân hóa giàu nghèo ngày càng xa nhau khi kinh tế thị trường ngày càng phát triển:

Cùng với đà phát triển của kinh tế thị trường, khoảng cách giàu nghèo tăng nhanh, đặt mối quan hệ giữa các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh thổ giữa các nhóm xã hội vào tình trạng chứa đựng nhiều cách biệt, bất bình đẳng. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tỉ lệ nghèo đói có xu hướng giảm, tỷ lê hộ có số thu nhập cao ngày càng nhiều lên nhưng chênh lệch giữa số hộ có thu nhập cao nhất so với số hộ có thu nhập ngày càng thấp ngày càng gia tăng. Sự PHGN ngày càng đậm nét và dễ nhận thấy ở những nơi KTTT phát triển như ở các đô thị, các thành phố và đặc biệt rõ nét là thành phố Hồ Chí Minh. Theo tác giả” Đỗ Thiên Kính-Tác động của sự chuyển đổi cơ cấu lao động nghề nghiệp xã hội đến phân tầng mức sống qua khảo sát mẫu 3 xã ở vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng thì “Theo chiều không gian từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng lên miền núi thì sự phân hoá giàu nghèo ở các tỉnh phía Nam rõ hơn phía Bắc, đồng bằng rõ hơn miền núi. Nếu lấy các đồ thị làm tâm và theo chiều từ đô thị về nông thôn, về tiếp các vùng sâu, vùng xa thì sự phân hóa đô thị diễn ra mạnh nhất, càng lan toả ra các vùng nông thôn xung quanh, sự phân hoá càng yếu dần và hầu như phẳng lặng ở miền núi.

Như vậy xu hướng này phản ánh quy luật phát triển không đều trong nền KTTT do đó tạo nên những khác biệt về kinh tế-xã hội, chênh lệch về phát triển giữa các tầng lớp xã hội, giữa thành thị và nông thôn. Một mặt, xu hướng này phản ánh tính tích cực của sự phát triển KTTT, kích thích tính năng động xã hội của từng nhóm xã hội, của từng vùng lãnh thổ cũng như của toàn xã hội vào quá trình phát triển đất nước. Mặt khác, nó cũng phản ánh mặt tiêu cực của cơ chế thị trường.

2. Phân hoá giàu nghèo đang có xu hướng đẩy tới phân hoá xã hội .

Phân hoá giàu nghèo thường đi kèm với bất bình đẳng xã hội, phân tầng xã hội, phân hoá giai cấp, chính vì vậy nó sẽ dẫn tới xu hướng phân hóa xã hoá. Xu hướng phân hoá xã hội có biểu hiện về kinh tế và biểu hiện trực tiếp ở phân hóa thu nhập, PHGN về kinh tế. Dưới tác động của KTTT , khuynh hướng của quá trình phân hoá sẽ diễn ra mang tính hai mặt: tích cực, tiêu cực.

– Mặt tích cực: dưới tác động của KTTT, một số nhóm xã hội với sự cởi mở của cơ chế mới, nhanh nhạy nắm bắt được vận may, cơ hội, tranh thủ được lợi thế do thị trường đem lại biết thích ứng và nắm bắt nhu cầu thị trường đã vươn lên chiếm lĩnh vị thế mới… tạo thành tầng lớp ưu tú của xã hội, đó là các nhà quản lí, kinh doanh giỏi…

– Mặt tiêu cực: cùng với đà phát triển của KTTT, PHGN diễn ra ngày càng sâu sắc gây nên sự bất bình đẳng, bất công bằng, các hiện tượng đó có xu hướng ngày càng gia tăng, phát sinh tiềm tàng các tệ nạn xã hội. Xu hướng này được biểu hiện ở một số hiện tượng sau:

. Xu hướng người nông dân chuyển vào thành phố và những vùng còn đất canh tác như Tây Nguyên…Quá trình này diễn ra thì một số hiện tượng đi kèm với chúng là mất đất, phá rừng, bóc lột,phân công lao động theo giới…trong xã hội ngày càng xuất hiện nhiều những người không có công ăn việc làm, một số trong đó trở thành những người lang thang, cơ nhỡ, tệ nạn xã hội tăng nhanh, nạn nghiện hút, mại dâm, cờ bạc, bói toán … trở thành những vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay.

. Trong đội ngũ công nhân cũng có sự PHGN và cũng có hiện tượng công nhân lành nghề chuyển dịch từ khu vực kinh tế quốc doanh sang khu vực kinh tế tư nhân. Công nhân có tay nghề cao dễ kiếm việc làm và thu nhập cao, công nhân tay nghề thấp hoặc chưa đào tạo thì thất nghiệp hoặc lương thấp, không có bảo hiểm dẫn đến nghèo khổ….

Trong đội ngũ tri thức xu hướng phát triển ngày càng cao với sự xuất hiện nhiều tri thức đầu đàn, nhiều chuyên gia đầu đàn trên nhiều lĩnh vực quan trọng và đóng góp của họ ngày càng to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên thu nhập tri thức có sự chênh lệch giữa các ngành nghề, giữa các vùng (chênh lệch lớn nhất là giữa đô thị và vùng sâu, vùng xa ) và xuất hiện hiện tượng “chảy máu chất xám”
Như vậy, sự phân hoá giàu nghèo luôn đi cùng với sự phân hoá xã hội và nếu chúng ta không có biện pháp cụ thể hạn chế sự phân hoá này thì làm xã hội mất cân bằng, không ổn định.

3.Định hướng xã hội chủ nghĩa với khả năng điều tiết sự phân hoá giàu nghèo.

Để có thể huy động được nhiều tiềm năng và sức mạnh hơn nữa cho quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, chúng ta phải giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là nhân tố XHCN và một bên là chệch hướng XHCN. Nếu để sự PHGN ở nước ta diễn ra một cách tự phát thì tự sự phân hoá, phân cực chủ yếu về mặt kinh tế, theo quy luật sẽ dẫn đến sự phân hoá giai cấp, phân cực xã hội và xung đột xã hội. Một bộ phận không nhỏ dân cư thuộc tầng lớp cơ bản trong xã hội sẽ bị bần cùng hoá, một bộ phận giai cấp tư sản nếu không được điều tiết, định hướng thì với sức ảnh hưởng thực tế của nó sẽ có thể làm chệch hướng XHCN sự phát triển đất nước. Mặt khác, nếu để sự PHGN diễn ra một cách tự phát thì chẳng những là nguyên nhân gây nên sự chênh lệch, cách biệt giữa thành thị và nông thôn dẫn đến tình trạng di cư tự phát từ vùng nghèo đến vùng giàu, từ nơi chậm phát triển, điều kiện kinh tế khó khăn đến nơi có điều kiện tốt hơn mà còn là nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến xung đột xã hội cục bộ và có thể trên quy mô lớn, mà trước hết có thể dễ xảy ra ở các vùng nông thôn, nơi có nhiều khó khăn…Tức là đi ngược lại với mục tiêu và bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN.

Do đó, vấn đề đặt ra là để phát triển nền KTTT định hướng XHCN thì phải làm thế nào để giữ cho khoảng cách giàu nghèo trong giới hạn cho phép tức là tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, từ đó có một cơ cấu xã hội hợp lý phản ánh sự vận động xã hội theo hướng tiến bộ đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, văn minh.

Như vậy, những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền KTTT thì xu hướng biến động của sự PHGN ngày càng trở nên rõ rệt. Và xu hướng “định hướng xã hội chủ nghĩa với khẳ năng điều tiết sự phân hoá giàu nghèo” ngày càng được hé mở và dần được khẳng định. Thực chất đó là xu hướng điều tiết sự PHGN theo định hướng XHCN. Đây là xu hướng chủ quan, xuất phát từ những nhận thức đúng về tính quy luật và những nhu cầu khách quan đòi hỏi trong quá trình giải quyết sự PHGN trong nền KTTT ở nước ta. Giải quyết được xu hướng này thì chúng ta có thể giải quyết được sự phân hoá xã hội và thu hẹp khoảng cách xã hội vì theo tư tưởng” cách mạng không ngừng” của chủ nghĩa Mác-Lênin, là xây dựng CNXH là giải phóng con người khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột, bất công, đói nghèo, lạc hậu, xây dựng một xã hội mới, trong đó mọi người thực sự làm chủ và có điều kiện phát triển toàn diện.

* Một số thành công trong công cuộc đổi mới ở nước ta là giữ vững định hướng XHCN là: theo báo cáo của UNDF 1997: đánh giá chỉ số phát triển nhân lực của Việt Nam là 0.577 trên thang điểm tối đa là 1. Như vậy, Việt Nam xếp thứ 121 trên tổng số 175 nước. Năm 1996, Việt Nam là một trong số 10 nước có xếp hạng chỉ số phát triển nhân lực cao hơn ít nhất là 20 bậc so với thứ hạng GDP. Điều này chứng tỏ ở Việt Nam tăng trưởng kinh tế đồng nghĩa với cải thiện đời sống nhân dân.”

Trong báo cáo ” Tổng quan kinh tế năm 1998 ” của Việt Nam cũng khẳng định: “Chỉ tiêu tỷ trọng thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp chiếm trong tổng số thu nhập của dân tằng dần: 1994 là 20 %, năm 1995 là 20,09%, năm 1996 là 20,97 %, ước tính năm 1998 là 21%. Đối với tiêu chuẩn quy định Ngân Hàng Thế Giới ( dưới 12 % là bất bình đẳng cao, trên 17 % là tương đối bình đẳng ) thì thu nhập của dân cư nước ta thuộc loại tương đối bình đẳng. Đó cũng là tiền đề bảo đảm sự phát triển kinh tế và xã hội ổn định và bền vững. Những kết quả này cho thấy xu hướng điều tiết PHGN theo định hướng XHCN là một tồn tại khách quan đúng hướng và mang tính thời đại về tư tưởng phát triển bền vững và mang bản chất của chủ nghĩa xã hội.

4. Dự báo tình trạng đói nghèo ở Việt Nam đến năm 2010:

Dựa vào” kỷ yếu hội thảo vấn đề phân phối và phân hoá giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta” cho biết:
+ Mức tăng trưởng GDP bình quân năm của 2 năm 2004 và năm 2004 được tính theo mức kế hoạch chung của thời kì 2001-2005 tức là 7,5 %, còn thời kì 2006-2010 được dự báo theo 3 phương án thấp, trung bình và cao: 7%, 7,5% và 8%.

+ Tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên hàng năm đến năm 2010 được dự báo giảm gần mỗi năm một lượng là 0,025%.

Theo tính toán trên, tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2005 vào khoảng 9,0% ( khoảng 1,5 triệu hộ) đến năm 2010 theo phướng án tăng trưởng kinh tế còn khoảng 5,0 %. Tức là khoảng 4-5% hộ nghèo đói ( khoảng 0,7 triệu hộ sẽ còn tồn tại ở nước ta vào thời điểm năm 2010. Mỗi năm thời kì dự báo 2004-2010 tỷ lệ hộ nghèo giảm được 1,1%, trong đó giai đoạn 2003-2005 là 1,45%, giai đoạn 2006-2008 là 1,1%, còn 2 năm cuối 2009-2010 là 0,8%.

Với 4-5% hộ nghèo còn tồn tại ở nước ta vào năm 2010 thì người nghèo chủ yếu tập trung: 80% là sống ở các khu vực miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, 15-16% ở khu vực Duyên Hải Bắc Bộ và duyên hải Trung Bộ, còn khu vực Đồng Bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ chỉ chiếm 4-5% (chủ yếu ở vùng nông thôn). Tuy nhiên với nền kinh tế nước ta như hiện nay, cùng với sự giảm tỉ lệ đói nghèo trong nước thì sự gia tăng của các hộ giàu là không tránh khỏi. Chính vì vậy sự phân hóa giàu nghèo vẫn tiếp tục diễn ra và sự chênh lệch giữa giàu và nghèo ngày càng mở rộng dần. Vì vậy, chúng ta phải có một giải pháp cụ thể để xoá bỏ sự bất bình đẳng đó và đem lại công bằng cho xã hội.

Như vậy, từ việc phân tích thực trạng sự phân hoá giàu nghèo. ở nước ta hiện nay, chúng ta có thể thấy được những nguyên nhân gây ra sự phân hoá và xu hướng biến động của nó. Thông qua đó, nhận thấy được những mặt tích cực và tiêu cực của sự phân hóa giàu nghèo từ đó có biện pháp cụ thể để khắc phục mặt tiêu cực của sự phân hoá giàu nghèo.