Xu thế phát triển chung của thương mại quốc tế

Xu thế phát triển chung của thương mại quốc tế
Đánh giá bài viết

 

* Xu thế chung, mức tăng trưởng của thương mại quốc tế tuy thấp hơn so với các luồng FDI nhưng vẫn thường gấp gần 2 lần so với sản xuất thế giới. Theo đánh giá của H. Schutte, châu á – Thái bình dương (TBD) là khu vực kinh tế thương mại năng động nhất (trừ vùng Trung Đông). Trong những thập kỷ qua, thương mại nội bộ châu á – TBD cũng như thương mại giữa châu lục này với Tây Âu và Bắc Mỹ thường đạt mức tăng trưởng trung bình 10%/ năm, trong khi châu Mỹ Latinh chỉ đạt mức tăng trưởng 3-5%/ năm. Nhóm nước Đông Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) đạt mức 2-3%. Thương mại của khu vực châu Phi tăng trưởng thấp hơn, với mức 0,5%/năm.

*Chủ nghĩa bảo hộ mới (Neo-Protectionism), một trong những nét nổi bật của nó là gần như mọi giao dịch thương mại thế giới bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt không chính thức (Informal Discrimination), cụ thể:

  •  Hạn chế số lượng hàng nhập khẩu (như Mỹ hạn chế nhập khẩu dệt may, ô tô…),
  •  Tự nguyện hạn chế điều tiết xuất khẩu (như đối với dầu mỏ),
  • Trợ cấp xuất khẩu (Export Subsidies) có xu hướng giảm dần,
  •  Những điều chỉnh hoạt động Marketing nhằm phù hợp thực tế và mang lại hiệu quả hơn.

Bảo hộ mới cũng thúc đẩy quan hệ thương mại song phương phát triển mạnh điển hình là thương mại giữa các nước phát triển và các nước chậm phát triển, giữa các nước phát triển và các nước NICs, giữa Mỹ và Cộng đồng châu Âu, giữa Mỹ và Nhật Bản, giữa Cộng đồng châu Âu và Nhật Bản. Bảo hộ mới còn được áp dụng phổ biến trong từng ngành như ngành dệt may và giày dép, ô tô và máy móc thiết bị, thép và đóng tàu…
* Mức độ phụ thuộc vào ngoại thương (DFT). Theo thống kê thương mại IMF, mức độ phụ thuộc vào ngoại thương được xác định như sau:

Suốt thời gian qua, không chỉ các cường quốc lớn mà cả các nước công nghiệp mới trong xu thế toàn cầu hoá ngày càng phụ thuộc sâu sắc vào ngoại thương như một quy luật phát triển tất yếu. Giáo sư H. Schutte đã đơn cử số liệu năm 1992 ở một số nước:

Mỹ: 17,0% Hàn Quốc: 53,5%
Nhật Bản: 16,3% Đài Loan: 72,8%
Pháp: 37,2% Singgpore: 74,1%
Anh: 40,2% Hongkong: 87,6%
Đức: 47,2% …….

* Tình hình phát triển thương mại quốc tế phát triển mạnh cả bề rộng và bề sâu. Do đó các hình thức thương mại cũng phong phú và đa dạng, điển hình như:

  •  Thương mại tự do. Đây là xu thế nổi bật đối với hàng hoá và dịch vụ, kể cả hàng nông sản. Tự do hoá thương mại nông sản là kết quả của vòng đàm phán Urugoay mà các nước thành viên GATT đã rất kiên trì và nỗ lực.
  • Thương mại “thân hữu”(“Muddle-Though”Trade). Trên thực tế, đây là hình thức thiếu “minh bạch”đi ngược lại với những nguyên tắc chung của GATT là trong sáng, rõ ràng và không phân biệt đối xử. Thương mại “thân hữu”thường áp dụng trong buôn bán song phương dựa trên mối quan hệ thân thiết đặc biệt và là một biểu hiện của chủ nghĩa bảo hộ mới.
  •  Thương mại hạn chế (Restricted Trade). Hình thức này diễn ra ở từng khu vực hay từng khối kinh tế thương mại với những ưu đãi nhất định, còn gọi là buôn bán nội khối, như NAFTA, EU, ASEAN… Ngoài ra còn có những hình thức buôn bán khác như buôn bán cấp chính phủ và buôn bán tư nhân, buôn bán song phương và đa phương, buôn bán phi mâu dịch

* Những vấn đề mới nổi bật hiện nay và tương lai. Giáo sư H. Schutte nhấn mạnh:

– Việc cải tiến hệ thống thương mại quốc tế được đánh dấu bởi mốc chuyển tiếp từ GATT đến WTO. Sau nhiều thập kỷ hoạt động, GATT đã hoàn thành xuất sắc vai trò lịch sử của mình.

– Từ 1-1-1995, tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời với nhiều vấn đề mới nổi bật hiện nay và tương lai, trước hết là:

  •  Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập đầy đủ, sâu sắc hơn,
  •  Bước phát triển cao của thương mại dịch vụ quốc tế,
  •  Đẩy mạnh hơn tự do hoá thương mại nông sản, dệt may,
  •  Chú trọng vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ,
  •  Dỡ bỏ rào cản thuế quan và thay bằng những định chế mới,
  •  ảnh hưởng mạnh hơn của FDI đến thương mại quốc tế,
  • Bảo vệ môi trường và Marketing Xanh (Green Marketing)